Wednesday, 27 November 2013

Mặt trăng trong quan hệ tình cảm


Khi tôi gặp một người mà tôi thích trong tình cảm và muốn có quan hệ lâu dài, tôi sẽ KHÔNG quá quan tâm về "Sun Sign" hay dấu hiệu Hoàng Đạo (của Mặt Trời) của người đó, mà tôi sẽ nhìn vào một loạt các hành tinh khác.  Các hành tinh quan trọng chi phối cảm xúc và tình cảm của con người đó chính là: Mặt Trăng (Moon), Kim Tinh (Venus), Hỏa Tinh (Mars), Thủy Tinh (Mercury).  Ngoài ra, còn phải phân tích một số yếu tố / hành tinh khác nếu tôi muốn đi xa hơn nữa trong quan hệ (như chuyện hôn nhân chẳng hạn), nhưng đó sẽ là chủ đề cho phạm vi của một bài viết khác.

Trong các trang horoscope đại chúng mà bạn thường gặp trên internet ngày nay, ít bao giờ bạn thấy họ đề cập đến Mặt Trăng hay các hành tinh khác để diễn dịch hai người hợp nhau trong tình yêu như thế nào.  Đơn giản là họ bị KẸT trong mớ bòng bong mơ hồ và sai lầm khi chỉ nhìn vào Mặt Trời trong 12 dấu hiệu Hoàng Đạo để đánh giá "mối quan hệ lý tưởng nhất".  Cũng có thể là họ phải đơn giản hóa mọi việc để đáp ứng nhu cầu thương mại hay nhanh chóng "nổi tiếng" để có số lượng đọc giả hay "bấm like" nhiều nhất, vì chúng tương đối "dễ hiểu" và "vui vui" đối với đại đa số các bạn trẻ hay những người ít quan tâm đến chiều sâu của môn chiêm tinh.  Tuy nhiên, hậu quả trong thời gian qua đó là nó đã dẫn đến nhiều quan niệm sai lầm đáng tiếc, thậm chí MÊ TÍN một cách mù quáng vào các "lời phán" thiếu căn cứ chỉ suy ra đơn điệu từ "12 cung Hoàng Đạo", và cuối cùng tác động tiêu cực trong sinh hoạt của các bạn trẻ như tình yêu, học hành, sự nghiệp, hôn nhân v.v...


Khi bạn quen một đối tượng và chỉ duy nhất biết về vị trí của Mặt Trời trong một chòm sao Hoàng Đạo nào đó, để rồi suy ra được những thông tin đại loại như "động lực sống", "ý chí", "bản ngã", "sáng tạo", "thể hiện bản thân" v.v... của người đó, rồi thì sao nữa ? Chẳng lẽ bạn xem đây là những "đức tính lý tưởng" hay chuẩn mực mà bạn đang tìm kiếm ở "người tình trong mộng" của mình đó chăng ?  Bạn đang ĐÙA với tôi đấy à ?  Thật nực cười ! :-D

Khi nói đến "quan hệ tình cảm" là chúng ta nói đến những nhu cầu thiết yếu và các thói quen của bạn.  Những cảm xúc căn bản, nhu cầu bản năng và an sinh, cũng như ước MUỐN của bạn được thể hiện qua vị trí của MẶT TRĂNG.  Hay nói cách khác, ở nền tảng căn bản của một quan hệ, liệu hai người có hòa hợp được với nhau hay không là do mức độ tương đồng của Mặt Trăng trong lá số người này với Mặt Trăng trong lá số người kia.  Kế đến, bạn mới xem đến sự kết hợp hay tương tác giữa Mặt Trăng và những hành tinh thuộc vòng trong khác như: Thủy Tinh (Mercury/tư duy), Kim Tinh (Venus/giá trị) và Hỏa Tinh (Mars/động lực) dưới dạng các góc chiếu - mà tôi sẽ nói đến ở những bài sau.  Trong bài này, chúng ta sẽ đầu tiên tìm hiểu về Mặt Trăng nhé.

Trong lá số của bạn (hay người kia), Mặt Trăng và vị trí Hoàng Đạo của nó sẽ chỉ ra ngay lập tức đến loại đối tượng mà bạn cảm thấy bị cuốn hút và dễ gần gũi nhất.  Mặt Trăng là một thiên thể di chuyển khá nhanh trên bầu trời.  Vì thế, khi nói về quan hệ tình cảm, vị trí Mặt Trăng KHÔNG mang một ý nghĩa gì về sự "lâu bền", hay có một quyết định nào trong sự cuốn hút / gần gũi đó, cũng chẳng phải để trả lời câu hỏi "Liệu sự tương thích giữa hai người có BỀN VỮNG hay không ?", mà nó chỉ nói lên sự thu hút và gắn bó theo BẢN NĂNG của bạn về đối tượng đó một cách tự nhiên - ngay từ ấn tượng hay CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN !  Và dĩ nhiên, đó là chuyện "hên xui" của bạn khi xác suất là bạn bị cuốn hút bởi một "thiên thần", hay cũng có thể là một ... "ác quỷ" !

Phần dưới đây là tóm tắt các tính chất quan trọng trong tình cảm của Mặt Trăng qua 12 cung Hoàng Đạo.  Đầu tiên, bạn xem trước cho Mặt Trăng của bạn, và sau đó xem qua Mặt Trăng của người kia để so sánh hai lá số và tìm ra điểm tương đồng của nhau.

Nếu bạn chưa có lá số của mình, bạn nên xem hướng dẫn trong bài số 102 ở phần "Notes".  Lưu ý là hãy lập lá số theo hệ thống cung Nhà kiểu "Trọn Cung" ("Whole Signs") nhé.  Đối với những bạn thích dùng Placidus thì cũng ok, nhưng nhớ rằng: dấu hiệu Hoàng Đạo cho điểm Mọc (Ascendant) sẽ thuộc cung Nhà thứ 1, dấu hiệu kế tiếp (theo chiều nghịch kim đồng hồ) sẽ thuộc cung Nhà thứ 2, và v.v... Còn những bạn mới nghiên cứu, hãy xem trước bài 101 cũng trong phần "Notes".



MẶT TRĂNG TRONG CÁC DẤU HIỆU HOÀNG ĐẠO:

Trong cùng một dấu hiệu Hoàng Đạo của Mặt Trăng, cả hai phái Nam lẫn Nữ đều sẽ giống nhau khi có chung tương tự những cảm xúc, mục đích, ước muốn v.v... nhưng các thôi thúc này sẽ thể hiện ra hoàn toàn KHÁC NHAU cho mỗi phái.  Nếu một lá số có:

Mặt Trăng trong Bạch Dương: đây là mẫu người dễ bốc đồng, giận dữ và hung hăng.  Tính tình sinh động, sẵn sàng hăm hở bắt tay vào vấn đề và nắm quyền lãnh đạo, có tính tự tôn.  Thường liên tục gặp những cuộc tình "sét đánh" và chóng vánh liền kề với nhau.  Muốn đảm nhiệm một cái gì đó cho người khác.  Luôn muốn là người thành đạt, và rất có máu cạnh tranh.  Theo kinh nghiệm riêng của tôi thì đây là một BÁO ĐỘNG ĐỎ, vì dù là nam hay nữ, người có Mặt Trăng trong Bạch Dương thường KHÔNG chung thủy, và rất dễ "say nắng" / NGOẠI TÌNH !  NAM: thích gặp những người yêu không ổn định, có những tính bốc đồng hay tự phát nhanh tức thì. NỮ: bị thu hút bởi những người tự phát, tự lập hay tự túc.

Mặt Trăng trong Kim Ngưu: là một người sống tùy thuộc, bám víu vào người khác.  Thụ động, ít nói hay trầm tĩnh, có thể hiền lành và nhu mì. Dễ bị trầm cảm lây nhiễm từ thái độ của người khác, hoặc dễ bị người khác chi phối / ảnh hưởng.  Đối với họ, chuyện "quan hệ" là một cái gì đó có thể rất căng thẳng, thường muốn "thà ở một mình cho xong!"  NAM: thích những người yêu biết giữ những giá trị truyền thống, trầm tĩnh, bảo thủ và mạnh mẽ.  NỮ: thích những "doanh nhân thành đạt".

Mặt Trăng trong Song Tử: rất hiếu động, có thể có nhiều mối quan hệ tình cảm cùng một lúc, và đó là NHU CẦU của họ.  Dễ bị chi phối / ảnh hưởng / điều khiển bởi người khác.  Khó "cột chặt" được bản tính "bay nhảy" hay "thả dê" / tán tỉnh của họ.  NAM: thích những phụ nữ sống bằng lý trí, thông minh hay nông cạn.  NỮ: thích nhất tiết mục "bà già lái máy bay".

Mặt Trăng trong Bắc Giải: là người luôn hướng về sự thành đạt cũng như có tính cạnh tranh trong các quan hệ tình cảm (như danh hiệu "gia đình mẫu mực", có "vợ hiền con ngoan" v.v...)  Thân thiện, dễ thu hút người khác đến với mình.  Thụ động.  Dễ bị tổn thương và rơi nước mắt vì người khác.  Luôn muốn lo lắng, chăm sóc cho người khác.  NAM: thích những phụ nữ có tính cẩn thận, nhẹ nhàng và thiên về thụ động.  NỮ: thích người đàn ông có tâm, biết lo lắng và chăm sóc.

Mặt Trăng trong Hải Sư: là người sống tùy thuộc.  Sẵn sàng chủ động.  Tự tôn, muốn được tung hô, ngưỡng mộ.  Có tinh thần quan tâm và chăm sóc, nhưng đồng thời dễ bám víu vào người khác.  NAM: thích những người phụ nữ yêu trẻ con, và quan trọng nhất đó là có tính rộng rãi, thoải mái.  NỮ: thích "dân chơi", hay người đàn ông có máu nghịch ngợm, chọc ghẹo, hay lêu lổng.

Mặt Trăng trong Xử Nữ: thường gặp khó khăn, miễn cưỡng hay chần chừ trong quan hệ tình cảm. Dễ bị trầm cảm bởi người khác.  Muốn được ở một mình.  Năng động, hiền lành và thường phục vụ người khác.  NAM: thích những phụ nữ đặc biệt hay khác thường trong xã hội.  NỮ: thích người yêu luôn có những vấn đề sức khỏe nào đó.

Mặt Trăng trong Thiên Bình: hiếu động, quán xuyến, muốn gặp gỡ nhiều người và có tính cạnh tranh trong quan hệ tình cảm.  Dễ bị chi phối bởi người khác. NAM: thích những phụ nữ có tình cảm lãng mạn nhẹ nhàng, mảnh mai hay có nét đẹp nổi bật.  NỮ: thích những người đàn ông "chân dài" / có chiều cao (càng cao càng tốt!)


Mặt Trăng trong Hổ Cáp: là người sống tùy thuộc, dễ bị xúc động.  Có sức cuốn hút người khác dễ dàng đến với mình. Biết chờ đợi.  Bám víu, tùy thuộc vào người yêu trong tình cảm.  NAM: thích những phụ nữ cực kỳ gợi cảm, kết hợp với ý chí bản thân mạnh mẽ.  NỮ: thích người đàn ông có quyền lực và đồng thời có những mối quan hệ phức tạp.

Mặt Trăng trong Nhân Mã: hiếu động, và muốn chủ động trong mọi việc.  Tự tôn.  Có tinh thần quan tâm đến người khác.  Đam mê du lịch, dã ngoại hay sinh hoạt ngoài trời / sân vườn.  NAM: thích những phụ nữ năng động, thể thao, khác văn hóa / màu da / chủng tộc.  NỮ: thích mẫu người đàn ông "không biết việc nội trợ" / "không thích ru rú ở nhà" / hay đi xa hoặc đi ra ngoài suốt ngày, và có tâm hồn thanh thoáng / cao thượng.

Mặt Trăng trong Ma Kết: rất cạnh tranh trong tình cảm.  Tính tình hiền lành, dễ bị ảnh hưởng, rơi vào tâm trạng hay trầm cảm bởi người khác.  Khi gặp trắc trở trong tình cảm, có thể "ở vậy nuôi con", hay chỉ muốn được sống đơn độc tự túc, "không thích ai làm phiền".  NAM: thích mẫu người phụ nữ hay toan tính, cầu kỳ, khô cứng, có trách nhiệm và kiên nhẫn.  NỮ: thích trò "trâu già gặm cỏ non" hay người đàn ông có phong cách cổ điển.

Mặt Trăng trong Bảo Bình: là người sống tùy thuộc vào người xung quanh, dễ bị "gió thổi chiều nào, bay theo chiều đó", bám víu vào người khác, nhất là trong tinh thần / tư tưởng.  NAM: tình yêu đơn phương, thích phụ nữ có da trắng hay nhợt nhạt, khác biệt nhiều về tuổi tác hay văn hóa, muốn những phụ nữ lý trí, phi truyền thống, hay có nét gì đó trên trung bình.  NỮ: tình yêu đơn phương, thích những đàn ông trợ giúp mình một cách thiết thực.

Mặt Trăng trong Song Ngư: hiếu động, tự phát, lo lắng đến người khác.  Có tài thu hút người khác đến với mình.  Rất sáng tạo. NAM: thích những phụ nữ rất nhạy cảm, không ích kỷ, biết nhìn đời qua lăng kính màu hồng.  NỮ: thích mẫu người đàn ông cực kỳ nhạy cảm.

...


MẶT TRĂNG TRONG CÁC CUNG NHÀ

Khi Mặt Trăng di chuyển vào một cung Nhà nào trong lá số, ý nghĩa của nó cũng sẽ thay đổi một tí:

Mặt Trăng trong Nhà 1: không chất chứa quá nhiều cảm xúc nhưng lại muốn tạo dựng một hình ảnh cá nhân biết "cảm thông đến người khác", cùng với những nỗ lực để sẵn sàng bảo bọc / chăm sóc / lo lắng.  Suy nghĩ rất logic, mọi động thái đều có sự tính toán và thực dụng, thích hợp cho doanh thương.  Tâm trạng luôn hiếu động, tính khí dễ thay đổi hoặc chực chờ manh động, rất nhạy cảm.  Ảnh hưởng nhiều từ phía người mẹ.  Lắm khi có thể xem mình là "Má", và người khác là "Con" trong mọi quan hệ !

Mặt Trăng trong Nhà 2: quan hệ là một thứ "tài sản" để "sở hữu", nên họ rất bám víu / vương vấn song song với tính thụ động nhưng ích kỷ trong tình cảm.  Gắn bó với gia đình, truyền thống của gia đình hay gia sản của dòng tộc.  Quan tâm nhiều đến quan hệ xui gia hay phía gia đình của người yêu.  Thường sinh ra trong gia đình giàu có, nhưng có thể bản thân họ là một "phá gia chi tử" vì họ khó kiểm soát thói hoang phí của mình.

Mặt Trăng trong Nhà 3: lém lỉnh, láu cá, có nhu cầu truyền đạt hay chia xẻ "cảm xúc" bằng thứ ngôn ngữ "lý trí" nào đó, tính tình rất khó "ở một chỗ" / thất thường, giỏi bắt chước, nhạy cảm với ý kiến của người khác, nắm bắt tâm lý người khác rất nhanh, gắn bó mật thiết với anh chị em ruột / hàng xóm láng giềng hay bạn bè, có tài quảng cáo / viết lách / ăn nói, giỏi việc kinh doanh hay những hoạt động sử dụng đôi tay.

Mặt Trăng trong Nhà 4: nhẹ nhàng, tâm trạng rất tùy thuộc hay bám víu vào người khác. Có quan hệ tốt với mọi thành viên trong gia đình ruột thịt cũng như hôn nhân và con cái của mình. Luôn nghĩ đến và cải thiện những vấn đề liên quan đến người mẹ, nhà cửa, bất động sản, sự chăm sóc hay làm "osin" cho người khác.  Có thể hình tượng hóa và tôn thờ người mẹ.  Lời "mẹ dạy" luôn quan trọng hơn lời "thầy dạy".

Mặt Trăng trong Nhà 5: yêu thích trẻ con, cần trẻ con trong cuộc sống, có tài năng trong nghệ thuật, rất sáng tạo trong cảm xúc và có thể diễn tả cảm xúc "thật như trong phim".  Luôn quan tâm đến vấn đề vui chơi giải trí, chuyện xã hội, trẻ em hay những hoạt động giúp con mình phát triển tài năng bẩm sinh.  Rất tự tin và hãnh diện.  Người có "số hưởng" do tiền kiếp tốt.  Nếu sinh vào trước ngày Trăng Rằm sẽ càng tốt hơn là sau ngày Trăng Rằm.

Mặt Trăng trong Nhà 6: hầu như có nhiều quan hệ với đồng nghiệp hay ai đó trong môi trường công việc.  Dễ bị đồng nghiệp lợi dụng hay mắc các chứng bệnh thần kinh như trầm cảm, hoang tưởng và phân liệt.  Quan tâm đến các vấn đề ăn uống dinh dưỡng và tu thiền.  Có thể thành công trong ngành y tế như bác sĩ, y tá hay thầy chữa bệnh.  Giỏi phân tích, phê bình, và chú tâm vào chi tiết, đôi khi quá quắt và chỉ thấy toàn vấn đề và khó khăn của người khác hay bất đồng ý kiến.

Mặt Trăng trong Nhà 7: rất xì-tai ("styled"), hợp "mode" hay thời trang, muốn được mọi người yêu thích, nồng nàn trong tình yêu, biết rất rõ phải xử sự tình huống như thế nào cũng như để tiến thân. Phụ nữ có vị trí này dễ dàng quay đàn ông như "quay dế" !  Là người chồng tốt hay vợ tốt trong hôn nhân cũng như một đối tác tốt trong công việc.  Thường giải quyết vấn đề theo cảm xúc, và giữ thái độ trung dung, cân bằng trong mọi mặt.

Mặt Trăng trong Nhà 8: thường lo sợ hay bất an trong quan hệ tình cảm.  Rất đạo đức, hay ... đạo mạo (!), và có những bí mật "động trời" trong đời sống tình dục.  Thường "giảng mo-ran" cho người yêu nghe.  Dễ bực bội trong cảm xúc.  Có quan hệ không tốt với người mẹ.  Quan tâm đến các vấn đề tâm linh và huyền bí và có thể hành nghề trong mặt đó.  Luôn nhìn vào mặt trái của sự việc.  Giỏi trong những lãnh vực chuyên môn về "đào sâu dưới bề mặt" như thám tử, khoáng sản, dầu khí, hoặc kinh doanh - nhất là cho vay, thuê mướn, v.v...

Mặt Trăng trong Nhà 9: thường có thái độ hâm mộ đối với người khác.  Dễ bị người khác cuốn hút, hay "dụ dỗ".  Quan tâm nhiều đến tôn giáo và các hệ thống triết lý, có thể là người mê tín ("sợ ma"), thiên về cuồng tín nhiều hơn là tâm linh.  Thường có địa vị học vấn cao, thành công trong học hành, bằng cấp hay những ngành nghề liên quan đến giáo dục, luật pháp hay soạn thảo văn bản.  Có thể "vọng ngoại", khao khát đi du lịch để tìm ý nghĩa tâm linh trong cuộc sống.

Mặt Trăng trong Nhà 10: muốn được yêu theo kiểu truyền thống, theo "sách vở", "xu hướng thời đại" hoặc được mọi người công nhận.  Rất nhỏ nhẹ và lịch sự.  Thường gặp rắc rối, bực bội hay thăng trầm trong tình cảm lẫn sự nghiệp.  Thành công trong ngành y tế, khách sạn, công chức.  Có trí tưởng tượng tuyệt vời, có tài sáng tạo và thiên hướng nghệ thuật nói chung hay âm nhạc nói riêng.  


Mặt Trăng trong Nhà 11: không quá hiếu động.  Thường có nhiều bạn thuộc phái nữ.  Mau chóng làm giàu hay tích góp tài sản / của cải.  Có mẹ là một người rất tâm linh hay ngoan đạo.  Giỏi PR, giao tiếp và có tài tạo dựng mối quan hệ mới với nhiều người hay nhóm hội.  Thích tiệc tùng, gây quỹ hay đi vào lãnh vực tài chính.  Thu thập và theo dõi nhiều tin tức để mình không cảm thấy bị lạc lõng.  Hay gặp may mắn về tiền tài.

Mặt Trăng trong Nhà 12: đây là vị trí của sự cô lập và cô đơn, rất nhạy cảm và thường giúp đỡ người khác.  Thường là những nhà văn thiên tài, bác sĩ mát tay hay những bậc tôn sư xuất chúng.  Quan tâm đến những vấn đề siêu phàm.  Thường chu du trên nước, đi xa vượt biển.  Thành công đến từ phương xa hay một nơi bí mật với công chúng.  Luôn dành một khoảng thời gian một mình tách biệt để "bế quan luyện công", thiền, tĩnh lặng và hồi tưởng một mình.  


...

MẶT TRĂNG KHI KẾT HỢP CÁC NHÓM THỂ ĐỘNG

Một cách khác để xem xét tính chất Mặt Trăng đó là chú ý đến NHÓM THỂ ĐỘNG của cung Nhà để so sánh với NHÓM THỂ ĐỘNG của dấu hiệu Hoàng Đạo mà Mặt Trăng cư ngụ.  Các NHÓM THỂ ĐỘNG đó là một trong 3 loại: Lãnh Đạo, Kiên Định hay Biến Đổi.

(từ bài Chiêm Tinh Học 101)
(từ bài Chiêm Tinh Học 101)

1) Nếu Mặt Trăng ở trong các cung Nhà thuộc nhóm Lãnh Đạo (cung Nhà 1, 4, 7 hay 10) và:

a/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó cũng thuộc nhóm Lãnh Đạo (Bạch Dương, Bắc Giải, Thiên Bình, Ma Kết): một người cũng rất hiếu động, RẤT BỐC ĐỒNG, cạnh tranh.  Hay gặp vấn đề về tranh dành quyền lực.  Tập trung mục tiêu và chủ động.  Thiếu kiên nhẫn, và luôn đặt cái "tôi" lên hàng đầu.

b/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Kiên Định (Kim Ngưu, Hải Sư, Hổ Cáp, Bảo Bình): một người biết rõ mình muốn gì.  Hay có thói nhấn mạnh lập đi lập lại.  Luôn luôn có mặt khi cần đến.  Muốn sự ổn định khi ở trong một môi trường cạnh tranh.  Trung thành với người yêu / đối tác / đồng sự.  Có tính tham của / sở hữu, thực dụng, vật chất.  Luôn thấy thiếu thốn điều gì đó chưa được mãn nguyện.

c/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Biến Đổi (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã, Song Ngư): một người khó theo nổi những tiêu chuẩn đặt ra bởi người khác.  Hay có nhiều thay đổi trong chỗ ở / nhà cửa và sự nghiệp.  Không thể sống cô đơn một mình.  Có tính thích nghi, hiếu động.  Một nhà tư tưởng hay là người biết suy nghĩ.  Có thể rất tâm linh hay mê tín, rất lý tưởng hóa và/hoặc triết lý.  Quan hệ xã giao rộng rãi, quan tâm đến các quan hệ giữa con người.  Sống bằng thời khắc / tự tại.  Cần một tình yêu biết chăm sóc và thấu hiểu.


2) Nếu Mặt Trăng ở trong các cung Nhà thuộc nhóm Kiên Định (cung Nhà 2, 5, 8 hay 11) và:

a/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Lãnh Đạo (Bạch Dương, Bắc Giải, Thiên Bình, Ma Kết): đây là người luôn quan tâm đến sự nghiệp.  Có tính cạnh tranh, luôn tìm cách tạo hiệu quả nhất trong công việc.  Có sức lôi cuốn.  Thường tự cảm thấy mình bị gò bó, cấm đoán hay giới hạn.  Có xu hướng bù đắp quá mức, hay làm quá tay.  Chuyên quyền.  Cuộc sống có nhiều biến cố dẫn đến thói tranh đua / cạnh tranh, có thể hung hăng.

b/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Kiên Định (Kim Ngưu, Hải Sư, Hổ Cáp, Bảo Bình): Người có tính kiên trì.  Thường cảm thấy bị trói buộc hay bị đóng khung trong khuôn khổ và bị tùy thuộc.  Gắn bó với người yêu (dù tốt hay xấu).  Có thói quen cố định, khó thay đổi.  Có tính sở hữu, không thể buông ra.  Gặp nhiều trái ngang trong tình yêu, ít khi mãn nguyện trọn vẹn trong tình yêu.  Không thể giãi bày.  Không thể thoát ra khỏi những quan hệ tình cảm làm tổn hại đến mình.

c/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Biến Đổi (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã, Song Ngư): người không chịu nổi những ràng buộc và giới hạn.  Không muốn xung quanh trở nên nhàm chán.  Có thể có tính cẩu thả và thiếu cẩn thận.  Đôi khi mâu thuẫn với chính mình, vừa yêu vừa ghét.  Sáng tạo, và cần có bạn đồng hành.  Muốn tạo ấn tượng và tỏa sáng với mọi người xung quanh.


3) Nếu Mặt Trăng ở trong các cung Nhà thuộc nhóm Biến Đổi (cung Nhà 3, 6, 9 hay 12) và:

a/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Lãnh Đạo (Bạch Dương, Bắc Giải, Thiên Bình, Ma Kết): dễ thích nghi, tự phát.  Thường tự "lao đầu" vào xung đột và mâu thuẫn.  Cần những quan hệ hời hợt bề ngoài.  Nói nhiều.  Muốn tạo sức lan tỏa hay truyền thụ sự giáo dục/dạy dỗ đến người khác. 

b/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Kiên Định (Kim Ngưu, Hải Sư, Hổ Cáp, Bảo Bình):  sống trong một thế giới riêng tư của chính mình để cảm thấy yên ổn giữa một thế giới bất ổn định và luôn thay đổi.  Là tảng đá vững chắc giữa biển khơi đầy sóng gió.  Cuộc sống thường không diễn ra hay đi theo ý muốn / dự định.  Chối từ hay tẩy chay những gì làm ra sự bất ổn định hay phá vỡ cảm giác yên bình.  Có xu hướng thoát ly.  Có tính sở hữu, vật chất, thực dụng.  Cảm thấy bất an ở tuổi trung niên khi mọi biến động bên ngoài áp đặt vào cuộc sống và bắt buộc phải thay đổi.  Thường sống trong trạng thái "sinh tồn" (đơn giản tối đa, chỉ cầu kỳ khi thật sự cần thiết).

c/ Dấu hiệu Hoàng Đạo của cung Nhà đó thuộc nhóm Biến Đổi (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã, Song Ngư):  có những quan hệ tình cảm không ổn định.  Có thể liều lĩnh, mạo hiểm.  Luôn cần sự thay đổi, không thể ngồi yên một chỗ, di chuyển thường xuyên.  Rất sáng tạo.  Kẻ lang thang.  Sống lý trí, hay tranh cãi / phản biện.


Lá số sau đây là ví dụ của trường hợp "1c":


...

[CCT]


Phiên bản 1.0.0, xuất bản ngày 5/11/2013, bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)

Nhận biết khả năng tâm linh qua một lá số

Tâm linh (psychic) là những gì hiện hữu ngoài khoa học vật lý hay kiến thức, và chính là bề mặt phi vật chất và có vẻ phi lý lạ lùng của cuộc sống. Một người có khả năng tâm linh thường là người cực kỳ nhạy cảm với những năng lực siêu nhiên.

Trong một lá số CTH, dấu hiệu của những người có khả năng tâm linh thường xuyên là các hành tinh tụ tập hay đóng trong các cung Hoàng Đạo thuộc hành Thủy (Bắc Giải / Cancer, Hổ Cáp / Scorpio và Song Ngư / Pisces), cũng như tiếp xúc với các chủ tinh liên quan của các cung hành Thủy ấy (Mặt Trăng / Moon, Hải Vương Tinh / Neptune và Diêm Vương Tinh / Pluto), và các cung Nhà trực thuộc (thứ 4, 8 và 12).

Các dấu hiệu Hoàng Đạo thuộc hành Thủy tượng trưng cho cảm xúc và sự nhạy cảm. Nhiều nhà chiêm tinh học thường gắn liền các tính chất tâm linh với các dấu hiệu hành Thủy là bởi vì Nước có cảm giác với mọi vật, và chúng có thể thấy phía bên dưới bề mặt của cuộc sống. Bắc Giải, Hổ Cáp và Song Ngư có thể thẩm thấu vào cảm xúc của người khác bất kỳ lúc nào, và những dấu hiệu này cũng dễ bị khuấy động bởi những gì họ thích hay không thích.

Bắc Giải có bản năng ruột (gut instinct) khá mạnh mẽ, và một thành ngữ mấu chốt dành cho Bắc Giải đó là "Tôi Cảm Thấy". Họ có xu hướng phản ứng với những gì họ cảm thấy đúng hay sai. Với người hành Khí sẽ là một trả lời khôi hài khi nói "Tôi Cảm Thấy" điều gì đó đúng, nhưng đối với Bắc Giải, đó là sự phản ứng với thế giới xung quanh bằng cảm xúc của họ mà không phải đến từ trí tuệ.

Bắc Giải được chi phối bởi chủ tinh là Mặt Trăng, và tâm trạng của họ dễ thay đổi và ủ rũ. Họ cũng có xu hướng hấp thụ mọi cảm xúc của những người xung quanh và điều này làm họ dễ yếu đuối với tâm trạng của người khác. Bắc Giải có thể nhận biết khi người khác buồn bực, và họ lưu giữ những liên hệ giữa cảm xúc của họ và người đó bên trong.

Ăng-ten của Bắc Giải luôn rà soát thâu thập thông tin từ môi trường xung quanh, sẵn sàng cảm ứng được từng chi tiết của bầu không khí tâm linh, và tất cả những gì vô hình và chưa được nói thành lời. Chủ tinh Mặt Trăng giúp họ rà trúng nhịp điệu tự nhiên của cuộc sống, nên họ có khả năng phán đoán tuyệt vời thời điểm và biết rõ khi nào sự việc sắp thay đổi.

Những người ảnh hưởng mạnh của Hổ Cáp có bản năng thâm sâu về khía cạnh tâm linh. Những người có chủ tinh Diêm Vương Tinh này có thể thấy được mặt sau của thực tế về thế giới vô hình. Liên hệ của Hổ Cáp với cái chết và âm phủ cho thấy họ cảm giác được thực tế của sự lìa trần, cái chết và luật luân hồi. Trong tháng Hổ Cáp, trái đất như đang chết đi, ở điểm yếu nhất của nó, và vì thế Hổ Cáp bị lôi cuốn vào những huyền bí của việc sanh tử, và vòng đời bất diệt của sự sống.

Halloween cũng được chào mừng vào thời gian này; ma, quỷ và những năng lực siêu nhiên khác trở nên hiện diện. Hổ Cáp có những nhận thức tâm lý sâu sắc về hành vi của con người, và họ thích khám phá những khía cạnh tâm linh vụn vặt, bí mật giấu kín, và những tầng sâu thẳm của thực tế. Khả năng nhìn vào bóng tối làm cho họ nhạy cảm với những gì phía sau bức tranh thực tế.

Chiếc đuôi của Hổ Cáp thường tượng trưng cho khả năng như tia laser siêu khủng chiếu thẳng vào trọng tâm của vấn đề. Diêm Vương Tinh cũng chủ về tài sản sở hữu và những động lực cảm xúc mạnh mẽ liên kết chúng trực tiếp đến những bí mật của cuộc sống. Khả năng đào sâu của Hổ Cáp giúp họ về lãnh vực nghiên cứu, thăm dò và huyền bí học.

Song Ngư và những người ảnh hưởng mạnh của Hải Vương Tinh được cho là có trực giác mạnh và khả năng xuất nhập hồn. Nếu thấy cặp Thủy Tinh và Hải Vương Tinh hợp chiếu với nhau trong lá số, đó thường là dấu hiệu của người có khả năng tâm linh bởi vì đây là sự tương hợp giữa nhận thức (Thủy Tinh) và tiềm thức (Hải Vương Tinh). Những người có ảnh hưởng mạnh của Hải Vương Tinh thường hấp thụ mọi thứ xung quanh họ, và những người này cảm nhận được nỗi đau của những người khác như thể là của chính họ, và dễ dàng thâm nhập vào những thế giới mà người khác không thể bước vào bằng nhận thức suy nghĩ bình thường.

Một số người Song Ngư (hay có ảnh hưởng mạnh của Song Ngư / Hải Vương Tinh) thường bị cho là "cách biệt", lập dị và họ có xu hướng có những trí tưởng tượng mạnh mẽ và giấc mơ rõ ràng như thật. Họ thường cần một nơi để họ có thể tạm biến mất khỏi thực tế để trở về chính họ. Họ có lẽ là những người có những cá tính ngược đời nhất, và biểu tượng hai con cá bơi nghịch hướng với nhau là để minh họa cho tính đối ngẫu lạ lùng này !

Song Ngư có những ranh giới mờ nhạt và bơi qua bơi lại giữa các ranh giới đó như thể chúng không còn hiện hữu. Họ cũng tìm kiếm để sáp nhập với mọi thứ xung quanh họ. Cung Nhà thứ 12 tượng trưng cho quá trình cuối cùng của đời người, và cũng là sự bắt đầu. Sự mầu nhiệm của Song Ngư đó là họ có khả năng bơi lặn sâu trong đại dương tiềm thức của tập thể và mang lên một cái gì đó khích lệ cho loài người.

Người ta cho rằng mối liên kết tâm linh của Hải Vương Tinh thật ra là một cảm nhận bí mật về sự tan chảy hòa quyện với một thế giới khác trên cả thế giới này. Khả năng Thần Nhãn (astral vision) hay Thiên Nhĩ Thông (clairaudiance - khả năng nghe được thế giới tâm linh mà lỗ tai thường không nghe được) liên quan trực tiếp đến hành Thủy, và, nhất là với Bắc Giải, vốn cực kỳ nhạy cảm với mọi tình huống nào trong cuộc sống.

Người ta cũng thường lầm lẫn khả năng tâm linh "thiên bẩm" của Hải Vương Tinh với ảnh hưởng "nhân tạo" của Thiên Vương Tinh (Uranus). Sự khác biệt giữa Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh đó là người ảnh hưởng Thiên Vương Tinh có thể có khả năng tâm linh chủ yếu do sự rèn luyện và tập tành sử dụng trí thức (đi học, tu luyện, thiền yoga) để khai thông tiềm năng tâm linh mà con người ai cũng có, với sự hướng dẫn của một vị minh sư nào đó. Nói cách khác, người Thiên Vương Tinh có thể thích thú, tìm tòi, học hỏi, tập luyện ... về những môn huyền linh học, sử dụng trí tuệ và kiến thức học hỏi được để khai thông tuệ nhãn, trong khi người Hải Vương Tinh thường là đã có sẵn những khả năng tâm linh một cách bẩm sinh.

Thiên Vương Tinh là một hành tinh thiên về trí tuệ, liên quan đến nhận thức tỉnh táo, giúp cho con người một khả năng "trực giác", nhưng hoàn toàn không phải thuộc chi nhóm "tâm linh". Những khải huyền của Thiên Vương Tinh nhanh nhạy hơn suy nghĩ con người rất nhiều, và Thiên Vương Tinh có khả năng thọc thẳng vào một hệ thống lớn hơn, soi sáng mọi việc rõ ràng bằng nhận thức. Một người có ảnh hưởng mạnh của Thiên Vương Tinh có thể phát lóe lên những cái nhìn hay nhận thức hiểu biết sâu sắc về sự việc. Khi kết hợp với các hành tinh trong Song Tử và Thủy Tinh, nó báo hiệu khả năng phát minh sáng chế. Những nhà nghiên cứu hay thám tứ khoa học về tâm linh (trên đài Discovery chẳng hạn) có thể có những cụm sao này kết hợp với cung hành Thủy, các hành tinh trong các cung Nhà tương ứng, cùng với góc chiếu nào đó của Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh.

Nói tóm lại, khả năng "trực giác" và "tâm linh" là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Thiên Vương Tinh chủ về "trực giác" và Hải Vương Tinh chủ về "tâm linh". Hải Vương Tinh tượng trưng cho huyền bí, các cảm nhận tâm linh vô hình, trạng thái "vô thức", trí tưởng tượng, giấc mơ dẫn đến cảm hứng sáng tạo. Ảnh hưởng của Thiên Vương Tinh cho phép người đó có trực giác sâu sắc, trạng thái "nhận thức", tầm nhìn rộng, thiên tài, phân tích chiêm tinh học, ứng dụng khoa học và công nghệ vào nghiên cứu chiêm tinh hay huyền linh học.

Có một câu hỏi đặt ra đó là "Liệu những nhà chiêm tinh học có ít nhiều khả năng tâm linh hay không ?". Hầu hết các nhà chiêm tinh học thực dụng kiểu Thổ Tinh sẽ phản bác quan niệm cho rằng các nhà chiêm tinh học sử dụng trực giác hay quyền năng tâm linh của họ để phán đoán. Có những nhà chiêm tinh học tự phân loại chính họ là hoàn toàn khoa học, nhưng dù là vậy đi nữa, họ cũng không chối bỏ rằng có một yếu tố huyền bí nào đó tác động khi diễn dịch những ký hiệu chiêm tinh. Ở mặt khác, chúng ta cũng có những nhà chiêm tinh tuyên bố rằng khả năng tâm linh bẩm sinh giúp họ diễn dịch các lá số chính xác hơn.

Trở lại câu hỏi cần trả lời. Sự thật là, dù tất cả mọi nhà chiêm tinh học đang thực hành một môn huyền linh học, điều này không có nghĩa là mỗi người họ ai cũng có khả năng tâm linh. Sách vở chiêm tinh học có bày bán khắp nơi, và mọi người ai cũng có thể mua về và tự nghiên cứu. Nhưng một số người tuyên bố rõ ràng rằng họ là những nhà chiêm tinh học có khả năng tâm linh. Có người đã có khả năng từ bẩm sinh. Có người suốt đời không bao giờ phát triển được khả năng tâm linh, và cũng có người phải mất nhiều năm để khai thông khả năng này. Tuy nhiên, tôi tin rằng hầu hết các nhà chiêm tinh học sớm muộn gì cũng sẽ có khả năng tâm linh, cho dù họ có biết họ có khả năng tâm linh hay không.

Nói cách khác, lá số ai cũng có 12 cung Nhà, 12 cung Hoàng Đạo vào các hành tinh, chứng tỏ con người ai cũng có tiềm năng về khả năng tâm linh. Tuy nhiên, để kích hoạt khả năng này từ trong tiềm thức trở thành nhận thức trong thực tế, sẽ cần các sao như Hải Vương Tinh, Mặt Trăng và Diêm Vương Tinh tác động cùng với các cung Hoàng Đạo hành Thủy, các cung Nhà 4, 8, 12 và một số các sao khác.

Khả năng tâm linh / huyền linh học còn được chia làm 5 loại:

1) Xu hướng tinh thần - đây là khả năng chung chung rộng rãi nhất, không chuyên về lãnh vực nào cả, sống trong tinh thần, đạo giáo, kiểu như "đạo nào cũng tốt", "thờ cúng ông bà" mà không đi quá sâu vào chi tiết của đạo

2) Khả năng chữa lành - khả năng chữa lành bệnh tật hay điều khiển các luồng năng lượng chữa bệnh

3) Huyền bí - có khả năng nhìn, nghe thấy và cảm nhận về thế giới vô hình và siêu nhiên, dự đoán tương lai và cho thấy khải tượng

4) Tâm linh - có khả năng hay biểu hiện khả năng tâm linh

5) Trực giác - nhạy cảm và nhận thức được trực giác của mình

Trong một lá số, các khả năng tâm linh thường được thấy qua các góc chiếu như sau:

(nếu có góc chiếu "trùng tụ" hay "tam hợp" thì là "Có Khả Năng Bẩm Sinh", trong khi "lục hợp" chỉ là "Tiềm Năng cần phát triển thêm")

Hải Vương Tinh + Cung Mọc: có khả năng (nếu hai hành tinh này trùng tụ hay tam hợp) hay có tiềm năng (lục hợp) về tâm linh và trực giác mạnh. Admin thuộc dạng này (trùng tụ). Có khải tượng thấy trước được sự việc, có tài năng về các môn nghệ thuật như âm nhạc và hội họa, siêu nhạy cảm. Có khả năng thẩm thấu được tâm lý của bất kỳ người xung quanh nào. Là người đôi lúc khó hiểu, lập dị, nhưng có tâm rất tốt, rộng lượng, dễ tha thứ, nhưng đồng thời lòng tốt và hy sinh cũng dễ bị lợi dụng bởi kẻ xấu. Khả năng tâm linh ban đầu có thể mang lại những rắc rối, hoang mang và nhầm lẫn trong cuộc sống cho đến khi có một sự hướng dẫn bài bản về đạo hay tôn giáo bởi minh sư.

Hải Vương Tinh + Mặt Trời: nhạy cảm với các dòng năng lượng tâm linh, xu hướng thiên về huyền bí, là người khó hiểu vì chính họ cũng không hiểu nổi mình ! Có khả năng chữa lành, thấy và nghe được người âm.

Hải Vương Tinh + Mặt Trăng: sống bằng trực giác, rất nhạy cảm tâm linh, phản ứng mạnh với các cảm xúc mà họ tiếp nhận được từ môi trường xung quanh. Có khả năng chữa lành.

Hải Vương Tinh + Thủy Tinh: Có trực giác, và cảm nhận tâm linh về người khác rất mạnh, dễ hoảng sợ hay hoang mang về khả năng này của chính mình cho tới khi phát triển được khả năng phân biệt. Có tiềm năng (lục hợp) hay năng khiếu (tam hợp) trong các lãnh vực tâm linh và huyền bí, thường nằm mơ hay có khải tượng thấy trước được sự việc, có tiềm năng tiếp xúc và học hỏi được hướng dẫn với tầng nhận thức siêu nhiên qua giấc ngủ, thiền.

Hải Vương Tinh + Kim Tinh: nhạy cảm tâm linh, có xu hướng huyền linh và tinh thần trong lá số của một người có nhận thức cao, giác quan thứ sáu.

Hải Vương Tinh + Hỏa Tinh: có thể chủ động điều khiển các năng lượng tâm linh mà không bị tổn hại. Được cho là "có thần thánh phù hộ". Nhạy cảm với môi trường xung quanh, phát hiện ngay người có tà tâm với mình. Thực dụng, "biến giấc mơ thành hành động", có thể kinh doanh từ khả năng tâm linh của mình.

Hải Vương Tinh + Mộc Tinh: có trực giác và nhạy cảm tâm linh, cần nghe theo những hướng dẫn từ nội tâm, thích tham gia các hội nhóm tôn giáo và triết lý

Hải Vương Tinh + Diêm Vương Tinh: sự hợp góc này ảnh hưởng chung cho một thế hệ con người, không mạnh mẽ bằng sự tương tác giữa Hải Vương Tinh với các hành tinh bên trong. Có tiềm năng và cơ hội để phát triển khả năng tâm linh, thần thông và tiên tri. Nằm mơ thấy trước được sự việc. Có khả năng chữa lành, mong muốn công lý cho mọi người. Chống lại bạo lực hay bất kỳ điều gì có thể hạ nhục hay kềm kẹp con người hay sinh vật khác.

Hải Vương Tinh và các cung Nhà:
- cung Nhà thứ 1: nếu không trùng tụ với cung Mọc, Hải Vương Tinh có thể nằm trong cung Nhà thứ 1. Ảnh hưởng cũng tương tự như trùng tụ với cung Mọc nhưng kém hơn một bậc.
- cung Nhà thứ 9: làm cho người ấy trở nên huyền bí, có trực giác, và nếu được các góc chiếu tốt khác kích hoạt: có khả năng thấy trước được khải tượng, dễ làm rối rắm âm u thêm cho những việc vô hình vốn đã khó hiểu.

Hải Vương Tinh trong các cung Hoàng Đạo:
- Bảo Bình (1998-2012): đam mê tìm hiểu về các hiện tượng tâm linh, khải tượng thần thông và các trạng thái tâm thức khác nhau (nhập hồn). Có xu hướng chiết trung (trung hoà một cách máy móc những quan điểm khác hẳn nhau - chủ nghĩa chiết trung cố dung hoà duy tâm và duy vật), phiêu lưu, trực quan và lập dị. Có tiềm năng sáng tạo trong tinh thần tự lập, tìm hiểu tôn giáo và huyền linh hay các hiện tượng tâm linh.

Nếu khu vực Song Ngư trong lá số có các sao sau:
- Thủy Tinh: tư duy tâm linh và khải tượng, rất có trực giác và thần giao cách cảm ở mức vô thức.
- Kim Tinh: cực kỳ tâm linh
- Thiên Vương Tinh: thuộc về thế hệ có khả năng tâm linh, trực giác và nhạy cảm. Nếu tạo góc chiếu hài hòa với Hải Vương Tinh, cho thấy một cá nhân bậc thầy nào đó đến để phục vụ nhân loại về triết lý hay tôn giáo. Hiện thân của một tiền kiếp có thể nắm giữ những chân lý tinh thần bén nhạy, có khả năng tâm linh thiên về triết học.
- Mặt Trăng: có khải tượng và khả năng huyền linh. Tuy nhiên, cần thêm những yếu tố bổ sung hài hòa khác trong lá số để kích hoạt tiềm năng này.

Thiên Vương Tinh + Diêm Vương Tinh: thuộc về một thế hệ có tiềm năng tâm linh và trực giác. Tiền kiếp có thể đã là những người phục vụ nhân loại bằng khả năng huyền linh của mình.

Thiên Vương Tinh + Mặt Trời: khả năng chữa bệnh bằng từ trường, trực giác mạnh

Diêm Vương Tinh trong cung Nhà thứ 12: có nhiều tiềm năng để có thể nhập hồn giúp đỡ người khác nếu biết khai thác tích cưc.

Tuổi Hoàng Đạo:
- Nhân Mã: có khả năng nhìn vào tương lai qua sự am hiểu về tình hình suy nghĩ chung, và sự sáng suốt dựa gần giống như tiên tri. Cần có các hành tinh để bổ sung và kích hoạt tiềm năng này.
- Bảo Bình: là cung biểu tượng của sự tái sinh về tinh thần

Mặt Trăng ở trong:
- cung Nhà thứ 9: nếu không bị khắc bởi các sao khác, những giấc mơ và khải tượng của người này sẽ trở nên ý nghĩa và sự thật. Có cảm nhận về lãnh vực siêu tư duy
- cung Bắc Giải: khả năng tâm linh mạnh, nếu kết hợp hài hòa với cung Nhà thứ 8 vì Bắc Giải chủ về tâm linh.

[CCT]

Phiên bản 1.1.14, xuất bản ngày 29/10/2012, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2013, bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)

Chủ tinh của các cung hoàng đạo


 

Mỗi cung Hoàng Đạo đều có một "Chủ Tinh" - là sao được xem như là hoạt động mạnh mẽ và đặc biệt "thoải mái" phát huy khi đóng tại chính cung Hoàng Đạo chủ vị của mình. Người Hy Lạp đã sắp xếp các chủ tinh theo một cấu trúc đối xứng và cân bằng với nhau, với mỗi hành tinh đóng vai trò chủ vị trên hai cung Hoàng Đạo, một Dương và một Âm, ngoại trừ Mặt Trời và Mặt Trăng là những chủ tinh của duy nhất chỉ một cung.

Mặt Trời là chủ tinh của Hải Sư, là thời gian nóng nhất trong năm (ở Bắc Bán Cầu), và là khi năng lượng Mặt Trời ở đỉnh cao nhất. Mặt Trăng là chủ tinh của Bắc Giải, là thời gian bắt đầu từ ngày Hạ Chí (21/6) - là ngày dài nhất trong năm, đánh dấu sự chuyển hướng của Mặt Trời (khi quan sát từ trái đất). Quỹ đạo càng xa trung tâm (Măt Trời) thì tốc độ của các hành tinh đi qua các cung Hoàng Đạo sẽ càng giảm. Kế đến là Thủy Tinh (Mercury), là chủ tinh của cả Song Tử và Xử Nữ. Tiếp theo là Kim Tinh, chủ tinh của Kim Ngưu và Thiên Bình, sau đó là Hỏa Tinh (Mars), chủ tinh của Bạch Dương và Hổ Cáp, rồi đến Mộc Tinh (Jupiter) là chủ tinh của Nhân Mã và Song Ngư. Cuối cùng, vào lúc lạnh lẽo nhất trong năm (ở Bắc Bán Cầu), Thổ Tinh (Saturn) là chủ tinh của Ma Kết và Bảo Bình.

Các hành tinh vòng ngoài khác chỉ mới được thêm vào mô hình này trong thế kỷ 20 vừa qua: Thiên Vương Tinh (Uranus) là đồng chủ tinh của Bảo Bình, Hải Vương Tinh (Neptune) là đồng chủ tinh của Song Ngư, và Diêm Vương Tinh là chủ tinh mới của Hổ Cáp (song song với Hỏa Tinh). Điều này có nghĩa là ba dấu hiệu Hổ Cáp, Bảo Bình và Song Ngư có đến hai chủ tinh cho riêng mình, và đồng mang tính chất của hai chủ tinh đó.

Tóm lại, cung Hoàng Đạo (cung Chủ Vị) và các Chủ Tinh cai quản gồm có:

Bạch Dương: Hỏa Tinh (Dương)
Kim Ngưu: Kim Tinh (Âm)
Song Tử: Thủy Tinh (Dương)

Bắc Giải: Mặt Trăng
Hải Sư: Mặt Trời
Xử Nữ: Thủy Tinh (Âm)

Thiên Bình: Kim Tinh (Dương)
Hổ Cáp: Hỏa Tinh (Âm), Diêm Vương Tinh
Nhân Mã: Mộc Tinh (Dương)

Ma Kết: Thổ Tinh (Âm)
Bảo Bình: Thổ Tinh (Dương), Thiên Vương Tinh
Song Ngư: Mộc Tinh (Âm), Hải Vương Tinh

LƯU Ý QUAN TRỌNG: Trong một lá số, dù một chủ tinh đóng ở đâu trong 12 cung Hoàng Đạo, nó cũng sẽ có tác động trực tiếp đến cung Chủ Vị. Ví dụ, nếu Hỏa Tinh đóng ở Thiên Bình, nó cũng sẽ tác động trực tiếp đến hai cung chủ vị của nó là Bạch Dương và Hổ Cáp, cũng như các cung Nhà mà hai cung Hoàng Đạo này bao phủ.

[CCT]

Phiên bản 1.0.2, xuất bản ngày 18/11/2012, bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)

Cách Nhận Diện Tiếp Điểm, Cung Nhà và Chủ Tinh


Nhiều người nóng lòng muốn học hỏi chuyên sâu vào CTH, nhưng lại bỏ qua bước nền tảng để rồi gặp bế tắc trong con đường học hỏi của mình.  Nhận diện Tiếp Điểm, Cung Nhà và Chủ Tinh là những viên đá căn bản quan trọng trước khi bạn có thể xem diễn dịch một lá số.

TIẾP ĐIỂM LÀ GÌ ?

Tiếp Điểm là những đường thẳng tỏa ra từ trung tâm của lá số và chia cắt với các dấu hiệu trên vòng Hoàng Đạo.




CÁC CUNG NHÀ NẰM Ở ĐÂU ?

Các cung Nhà được bao chặn giữa những tiếp điểm trên lá số.



Ngày nay, hiện có nhiều hệ thống phân chia cung Nhà (mỗi tài liệu CTH sử dụng hệ thống cung Nhà khác nhau!), gây rất nhiều rắc rối cho người mới tìm hiểu về Chiêm Tinh Học.  Tại sao lại phân chia ra nhiều hệ thống cung Nhà này (?!) sẽ là phạm vi của một bài viết riêng khác, và tôi chỉ muốn nhắc đến 2 hệ thống cung Nhà phổ thông nhất hiện nay ở đây:

1) Placidus: Được đề cập tới từ thế kỷ thứ 13, nhưng được chuẩn hóa bởi chiêm tinh gia Placidus de Titis, hệ thống Placidus là hệ thống phân chia cung Nhà được sử dụng nhiều nhất bởi các nhà Chiêm Tinh Gia phương Tây tại các quốc gia nói tiếng Anh.  Theo hệ thống này, các cung Nhà có thể thay đổi kích thước (= độ phủ góc so với vòng Hoàng Đạo) tùy theo vĩ tuyến của địa phương mà lá số được lập ra.  Các bạn càng sống gần phía Bắc và xa đường xích đạo chừng nào thì sự phân chia các cung Nhà sẽ bị "bóp méo" chừng đó: có những cung Nhà rất lớn và những cung Nhà rất nhỏ.  Ngoài ra, cung Nhà kiểu Placidus chỉ áp dụng giới hạn cho những địa phương từ vĩ tuyến 66° trở xuống.



2) Whole Signs ("Trọn Cung"): Hệ thống phân chia cung Nhà "Trọn Cung" ("Whole Signs") là hệ thống cổ đại và đơn giản nhất, được sử dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới trước khi Chiêm Tinh Học phổ biến đến phương Tây.  Khác với Placidus, dù bạn ở nơi nào trên thế giới, hệ thống Trọn Cung cũng phân chia các cung Nhà đều nhau và ứng với 12 cung Hoàng Đạo.  Ở Chòi Chiêm Tinh, tôi cũng sử dụng hệ thống Trọn Cung, và dùng Placidus để chỉ để tham khảo trong nghiên cứu.  Theo xu mới ngày nay, hiện có nhiều chiêm tinh gia đang trở về hệ thống "Trọn Cung" trong việc lập lá số.  Và tôi cũng khuyến cáo các bạn nên chọn "Whole Signs" khi lập lá số để dễ học hỏi trong thời gian ban đầu, và để tránh nhiều nhầm lẫn phức tạp với hệ thống Placidus.  Sau đây là cùng một lá số như trên, nhưng được phân chia theo hệ thống Trọn Cung:



Bạn nên nhớ rằng, tuy cách phân chia cung Nhà khác nhau tùy theo hệ thống, nhưng vị trí, tính chất và phương pháp dự đoán của các hành tinh trên Vòng Hoàng Đạo vẫn không thay đổi.  Nói cách khác, sự phân chia cung Nhà chỉ mang tính chất "bổ sung" trong quá trình chiêm nghiệm và dự đoán cho lá số đó, chứ không phải là yếu tố "quyết định".  Lựa chọn sử dụng hệ thống cung Nhà nào cũng tùy theo sở thích, trình độ và thậm chí văn hóa tập tục của chiêm tinh gia đó.  Như vậy, tùy bạn muốn chọn hệ thống cung Nhà nào cho mình cũng được, nếu bạn thấy nó đúng và phù hợp hơn với mình.


CÁCH XEM CÁC CUNG NHÀ THEO HỆ THỐNG "TRỌN CUNG"

Đường thẳng tạo thành tiếp điểm cho cung Nhà thứ 1 còn gọi là CUNG MỌC.

Như vậy, trong hệ thống Trọn Cung, dấu hiệu Hoàng Đạo cho cung Nhà thứ 1 cũng chính là cung Mọc.  Ở ví dụ dưới đây, lá số này có cung Mọc là Ma Kết.

Mỗi cung Hoàng Đạo luôn chiếm một góc 30° bằng nhau trên vòng Hoàng Đạo.  Nói cách khác, 12 cung Hoàng Đạo = 30° x 12 = vòng tròn 360°.



Ngoài cung Mọc ra, tiếp điểm cung Nhà thứ 4, 7 và 10 là những điểm quan trọng trong một lá số: Thiên Đế, cung Lặn và Thiên Đỉnh.


TÌM CHỦ TINH CỦA CÁC CUNG NHÀ

Mỗi cung Hoàng Đạo có một biểu tượng, hay còn gọi là nét chạm, dính liền với nó.  Mỗi cung Hoàng Đạo cũng có một hành tinh làm Chủ Tinh của nó.  Có người gọi Chủ Tinh là "hành tinh quản chiếu" - tùy bạn thích gọi kiểu nào.

Bạch Dương: (chủ tinh là) Hỏa Tinh
Kim Ngưu: Kim Tinh
Song Tử: Thủy Tinh

Bắc Giải: Mặt Trăng
Hải Sư: Mặt Trời
Xử Nữ: Thủy Tinh

Thiên Bình: Kim Tinh
Hổ Cáp: Hỏa Tinh, Diêm Vương Tinh
Nhân Mã: Mộc Tinh

Ma Kết: Thổ Tinh
Bảo Bình: Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh
Song Ngư: Mộc Tinh, Hải Vương Tinh

Trong ví dụ dưới đây, bạn có thể thấy cung Nhà thứ 4 nằm ở trong Bạch Dương.

- Hỏa Tinh là chủ tinh của Bạch Dương, vì thế cho nên Hỏa Tinh là chủ tinh của cung Nhà thứ 4.
- Hỏa Tinh đóng tại Hải Sư thuộc cung Nhà thứ 8, cho nên người này có chủ tinh cung Nhà thứ 4 nằm trong cung Nhà thứ 8




Tương tự, chủ tinh của cung Nhà thứ 6 nằm trong cung Nhà thứ 10, và chủ tinh của cung nhà thứ 12 nằm trong cung Nhà thứ 7 v.v...





"TÂN CHỦ TINH" VÀ "CỰU CHỦ TINH"

Riêng đặc biệt mỗi dấu hiệu Bảo Bình, Song NgưHổ Cáp đều có 2 chủ tinh: một cựu chủ tinh và một tân chủ tinh.  Ở một số tài liệu, "cựu chủ tinh" được gọi là "chủ tinh truyền thống", còn "tân chủ tinh" được gọi là "chủ tinh hiện đại".  Một lần nữa, muốn gọi kiểu nào cũng là tùy bạn.

- Cựu chủ tinh của Bảo Bình là Thổ Tinh (Saturn).  Tân chủ tinh là Thiên Vương Tinh (Uranus).
- Cựu chủ tinh của Song Ngư là Mộc Tinh (Jupiter).  Tân chủ tinh là Hải Vương Tinh (Neptune).
- Cựu chủ tinh của Hổ Cáp là Hỏa Tinh (Mars).  Tân chủ tinh là Diêm Vương Tinh (Pluto).

Một số chiêm tinh gia chỉ xem cựu chủ tinh, một số dùng cả hai chủ tinh, và số khác chỉ sử dụng tân chủ tinh.  Ở Chòi Chiêm Tinh, tôi sử dụng cả hai chủ tinh, phần nhiều sẽ là tân chủ tinh, và cựu chủ tinh mở rộng tính chất cho các dấu hiệu Hoàng Đạo này.

Như ví dụ dưới đây, Hỏa Tinh làm chủ cung Nhà thứ 4 trong Bạch Dương và là cựu chủ tinh của cung Nhà thứ 11 trong Hổ Cáp.  Tân chủ tinh của Hổ Cáp là Diêm Vương Tinh đóng ở cung Nhà thứ 9.





PHỤ LỤC: CÁCH XEM CÁC CUNG NHÀ THEO HỆ THỐNG "PLACIDUS"

Trong hình dưới đây, cung Nhà thứ 1 nằm trong Ma Kết (Capricorn).  Dấu hiệu Hoàng Đạo Ma Kết bao phủ vị trí mà tiếp điểm cung Nhà thứ 1 giao cắt với cung Hoàng Đạo Ma Kết.

Cung Nhà thứ 2 thuộc cung Hoàng Đạo Bảo Bình (Aquarius).  Dấu hiệu Hoàng Đạo Bảo Bình bao phủ vị trí mà tiếp điểm cung Nhà thứ 2 giao cắt với khu vực Bảo Bình trên vòng Hoàng Đạo.

Đường thẳng tạo thành tiếp điểm cho cung Nhà thứ 1 còn gọi là CUNG MỌC.



Trong ví dụ trên, bạn có thể thấy cung Nhà thứ 3 nằm ở trong Bạch Dương.

- Hỏa Tinh là chủ tinh của Bạch Dương, vì thế cho nên Hỏa Tinh là chủ tinh của cung Nhà thứ 3.
- Hỏa Tinh đóng tại Hải Sư thuộc cung Nhà thứ 7, cho nên người này có chủ tinh cung Nhà thứ 3 nằm trong cung Nhà thứ 7

TRƯỜNG HỢP CHẮN CUNG

Tiếp theo ví dụ trên trong hình dưới đây, cung Song Ngư hoàn toàn nằm trong khu vực bị chắn bởi Tiếp Điểm cung Nhà thứ 2 và thứ 3, và hoàn toàn không đụng chạm gì đến 2 Tiếp Điểm này.

Trường hợp này gọi là "Song Ngư bị chắn trong cung Nhà thứ 2".  Như vậy cung Nhà thứ 2 của lá số này sẽ có 2 chủ tinh chính và 2 chủ tinh phụ:

1) Chủ tinh chính: Thiên Vương Tinh (tân) và Thổ Tinh (cựu) cho Tiếp Điểm trong Bảo Bình
2) Chủ tinh phụ: Hải Vương Tinh (tân) và Mộc Tinh (cựu) cho cung Song Ngư bị chắn.



Trong lá số trên, Thiên Vương Tinh và Thổ Tinh sẽ là những chủ tinh chính của cung Nhà thứ 2, và đóng vai trò quan trọng nhất.  Hải Vương Tinh và Mộc Tinh là chủ tinh phụ, và đóng vai trò quan trọng thứ nhì.

TIẾP ĐIỂM ĐÔI

Trong ví dụ này, cung Song Tử bao trùm 2 Tiếp Điểm: của cung Nhà thứ 5 và thứ 6.  Như vậy, chủ tinh của Song Tử là Thủy Tinh sẽ là chủ tinh của cả hai cung Nhà thứ 5 và cung Nhà thứ 6.



[CCT] Phiên bản 1.1.0, xuất bản lần đầu ngày 2/7/2013, cập nhật lần cuối ngày 4/7/2013
bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)

Các mẫu hình cụm sao và góc chiếu đặc biệt

CỤM SAO (STELLIUM)

Trong tiếng Anh, "stellium" có nghĩa là một hiện tượng khi có ít nhất là 3 hành tinh tụ tập trong một cung Hoàng Đạo hay một cung Nhà. Ở Chòi Chiêm Tinh này, tôi sẽ gọi "stellium" là một "cụm sao" hay hiện tượng "tụ tinh". Tôi cũng có nghĩ đến chữ "quần tinh", nhưng chữ này đã được dịch từ chữ "cluster" trong thiên văn, có nghĩa là một quần thể gồm vài trăm cho đến vài trăm nghìn ngôi sao tụ tập lại với nhau bởi lực hấp dẫn.

Cụm sao gồm có 3 hành tinh rất thường xảy ra, bởi vì trong các hành tinh, Thủy Tinh ở gần Mặt Trời và tạo ra nền tảng cặp đôi căn bản để hình thành cụm-3-sao. Tuy nhiên, cụm sao có từ 4 hành tinh tụ tập trở lên (nhất là khi không tính Mặt Trăng) thì hiếm hơn. Cụm sao luôn mang theo những luồng năng lượng cực kỳ mạnh mẽ và tác động trên cuộc sống con người một cách rõ rệt hơn là khi chúng đứng đơn lẻ.  Đây là ví dụ của cụm-4-sao, gồm có Mặt Trời, Kim Tinh (Venus), Hỏa Tinh (Mars) và Thiên Vương Tinh (Uranus) xảy ra vào ngày 29/3/2013.


Cụm-5-sao hiếm khi xảy ra, chừng một lần mỗi một hay hai thập niên.  Sau đây là cụm-5-sao (Mặt Trời, Thủy Tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Mặt Trăng) xảy ra vào ngày 5/2/1962.  Cụm-5-sao này sít sao bất thường vì sai số cho mỗi cặp trong 5 hành tinh này chỉ tối thiểu 1°21'.  Cụm-5-sao cũng đã xảy ra vào ngày 9/5/2000 và sẽ vào ngày 8/9/2040.  Trong hai trường hợp này, độ sai số giữa các sao ở khoảng từ 4° đến 5°.


Cụm-6-sao rất hiếm.  Sau đây là một cụm 6-sao (Thủy Tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Mặt Trăng) đã xảy ra vào 0:30 sáng ngày 7/2/1997 với sai số giữa các hành tinh là dưới 8°58'.


Cụm-7-sao cực kỳ hiếm.  Dưới đây là cụm-7-sao (Mặt Trời, Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Tinh và Mặt Trăng) đã xảy ra vào 23:00 đêm ngày 11/1/1994 với sai số dưới 8°50'.



ĐẠI TAM HỢP (GRAND TRINE)

Một Đại Tam Hợp xảy ra khi một nhóm gồm ba (3) hành tinh có từng cặp tam hợp 120° với nhau.  Đây được xem như là điềm lành và may mắn.  Sau đây là ví dụ của 2 Đại Tam Hợp hiển thị bằng 2 tam giác màu xanh lá cây: Kim Tinh-Thổ Tinh-Diêm Vương Tinh, và Hỏa Tinh-Mộc Tinh-Thiên Vương Tinh đã xảy ra vào ngày 22/9/1904.



ĐẠI LỤC HỢP (GRAND SEXTILE)

Một Đại Lục Hợp xảy ra khi có 6 hành tinh với mỗi hành tinh này lục hợp 60° với 2 hành tinh hai bên tạo thành một hình lục giác trên lá số.  Đại Lục Hợp rất hiếm khi xảy ra.  Đây là một ví dụ về Đại Lục Hợp, tạo ra bởi Mộc Tinh, Kim Tinh, Thổ Tinh, Diêm Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Mặt Trăng vào lúc 1:00 sáng ngày 30/7/2013.



CÁNH DIỀU

Cánh Diều xảy ra khi có ba (3) hành tinh tạo thành một Đại Tam Hợp và hành tinh thứ 4 đối góc 180° với một trong 3 hành tinh này và đồng thời lục hợp với 2 hành tinh còn lại.  Một ví dụ về cánh diều đã xảy ra vào ngày 9/5/2006 gồm có Đại Tam Hợp giữa Hỏa Tinh, Mộc Tinh và Thiên Vương Tinh, và Mặt Trời thì đối góc với Mộc Tinh, đồng thời lục hợp với Hỏa Tinh và Thiên Vương Tinh.


Một ví dụ khác về 2 cánh diều tạo ra cùng lúc vào 19:00 tối ngày 30/11/1941 với 2 nhóm hành tinh: (1) Thủy Tinh, Kim Tinh, Hải Vương Tinh và Thổ Tinh và (2) Thủy Tinh, Kim Tinh, Hải Vương Tinh và Thiên Vương Tinh.  Ngoài ra, nếu cho phép sai số lớn hơn một chút (8°), có thêm một Đại Tam Hợp tạo ra bởi Mặt Trời, Hỏa Tinh và Diêm Vương Tinh.



VUÔNG GÓC CHỮ T (T-SQUARE)

Vuông góc chữ T xảy ra khi có 3 hành tinh A, B và C tạo thành một tam giác vuông: với A đối góc 180° với C, và B vuông góc 90° với cả A và C.  Dưới đây là một vuông góc chữ T xảy ra vào 9:00 sáng giờ New York, ngày 11/9/2001 (khi khủng bố xảy ra), gồm có Mặt Trời, Thổ Tinh và Diêm Vương Tinh.  Theo truyền thống, vuông góc chữ T được cho là điềm xấu, nhưng cũng có thể được xem ở một khía cạnh tích cực hơn như là một tình huống khó khăn thử thách cần phải vượt qua.



ĐẠI THẬP TỰ (GRAND CROSS)

Đại Thập Tự xảy ra khi có 4 hành tinh A, B, C và D tạo thành một hình vuông trên lá số, trong đó A vuông góc với B, B vuông góc với C, C vuông góc với D và D vuông góc với A, và A đối góc 180° với C, B đối góc 180° với D.  Đây là một điềm gây báo động !  

Đây là ví dụ của không những một, mà là 4 Đại Thập Tự chồng chéo xảy ra vào ngày 25/6/2010, gồm có các bộ sao: (1) Nhật (Mặt Trời), Mộc, Diêm, Thổ, (2) Nhật, Thổ, Diêm, Thiên, (3) Thủy, Mộc, Diêm, Thổ và (4) Thủy, Thổ, Diêm, Thiên:

 

Vì cao điểm xảy ra vào khoảng giữa năm, bạn có thể quan sát các sự kiện xảy ra ở thời gian trước và sau khi hình thành 4 Đại Thập Tự trong trục Song Tử / Nhân Mã và Xử Nữ / Song Ngư, cho thấy năm 2010 đã là một năm đầy chết chóc, biến động, và thế giới luôn chực chờ trong chiến tranh: khủng hoảng kinh tế ở Hy Lạp lan khắp Âu Châu, động đất lớn ở Haiti (chết trên 200 ngàn người) cũng như Chile và ở Trung Quốc, căng thẳng Bắc Hàn và Nam Hàn gần chạm đến bom hạt nhân, vụ tràn dầu vịnh Mexico của BP gây tàn phá môi trường, Mỹ rút quân ở Iraq, vụ Wikileaks tiết lộ các bí mật của chính phủ Mỹ về chính sách đối ngoại trên thế giới, khủng bố nhiều lần ở Nga và thất bại 2 lần ở New York và phi trường JFK, núi lửa phun tràn ở Iceland gây gián đoạn hoạt động máy bay, đàn áp phe "Áo Đỏ" của chính phủ Thái, toàn bộ nội các của chính phủ Ba Lan thiệt mạng trong vụ rơi máy bay ở Nga ...


"NGÓN TAY CỦA CHÚA" - "YOD"

"Yod" là một hình tam giác cân tạo ra bởi 3 sao, trong đó, sao A lục hợp 60° với sao C, và cả hai A và C đồng ngũ hợp 150° với sao B (AB = AC).  


"Yod" hay "yud" là ký tự thứ 10th trong bảng chữ cái tiếng Do Thái (Hebrew), nghĩa là "Ngón Tay Của Chúa" hay còn gọi là "Con Mắt Của Chúa".  Hiển nhiên là Ngón Tay Của Chúa này chỉ rõ về một hướng nào đó trong lá số, và đó chính là nơi ẩn chứa câu trả lời gút mắc để soi sáng cho người chủ của lá số ấy.  Không phải ai cũng có Yod trong lá số của mình.  Người nào có yod trong lá số có nghĩa là người đó đã được chọn lựa cho một mục đích đặc biệt nào đó trong cuộc sống.

Đây là một ví dụ về 2 yod xảy ra cùng một lúc vào ngày 24/4/1982.


Vào ngày 30/3/2013, sẽ có 10 yod (!) hình thành cùng một lúc.  Số lượng yod lớn như vậy là do sự trùng tụ 0° giữa Thổ Tinh và Mặt Trăng trong Hổ Cáp và cụm-4-sao trong Bạch Dương tạo ra bởi Mặt Trời, Kim Tinh, Hỏa Tinh và Thiên Vương Tinh.



CÁNH DIỀU "YOD"

Cánh Diều Yod cũng tương tự như mẫu hình Cánh Diều, nhưng thay vì là 3 hành tinh tam hợp và 1 hành tinh đối góc với 1 trong 3, Cánh Diều Yod là một yod với hành tinh thứ 4 đối góc với hành tinh ở đỉnh của bộ ngũ hợp và bán lục hợp (30°) với 2 hành tinh kia.

Đây là một Cánh Diều Yod (Nhật, Thổ, Hải, Thiên) đã xảy ra vào ngay lúc vụ nổ tràn dầu vùng vịnh Mexico "Deepwater Horizon", 9 AM, 21/4/2010 (giờ VN)


Đây là một Cánh Diều Yod nữa (Thổ, Mộc, Diêm, Kim) đã xảy ra vào sáng ngày "Tận Thế" 21/12/2012 và kéo dài đến ngày 26/12.


Cánh Diều Yod (CDY) không bình thường, vì suốt 12 năm từ 2007 đến 2018 chỉ có 11 lần xảy ra CDY.  Các năm 2008, 2009, 2011, 2013, 2014 và suốt 2016-2018 đều KHÔNG có CDY.  Trong năm 2007, chỉ có 1 CDY (13-15/2), trong 2010 đã có 6, và 2012 đã có 3 CDY (tất cả đều trong tháng 12) và trong năm 2015 sẽ có 1 CDY (20-23/5).  CDY kéo dài trung bình khoảng 4 ngày.  Trong 12 năm chỉ có CDY xuất hiện trong 40 ngày, cho nên xác suất của CDY xuất hiện trong một ngày nào đó là rất hiếm, chỉ dưới 1%.


HÌNH CHỮ NHẬT

Một Hình Chữ Nhật (HCN) xuất hiện khi có 4 hành tinh A, B, C, D tạo ra khi A đối góc 180° với C, B đối góc với D, A lục hợp với B và tam hợp với D, và C lục hợp với D và tam hợp với A.

Đây là một HCN, Nhật-Hỏa-Hải-Mộc, xuất hiện vào ngày 14/3/1965.  Nếu cho phép thêm sai số vào các góc tam hợp và lục hợp, có thêm 3 HCN nữa: Nhật-Diêm-Hải-Mộc, Kim-Hỏa-Hải-Mộc và Kim-Diêm-Hải-Mộc.



HÌNH THANG

Hình Thang được tạo ra bởi 4 hành tinh, A, B, C, D theo định nghĩa sau:

- A lục hợp B, B lục hợp C, và C lục hợp D
- A đối góc D, và
- A tam hợp C, B tam hợp D

Một sự bố trí hành tinh bất thường đã xảy ra từ ngày 6/2/1945 đến 13/2/1945: xuất hiện 2 hình thang (Thủy-Diêm-Thiên-Kim, Kim-Diêm-Hải-Thiên), 2 cánh diều (Hải-Thủy-Thiên-Kim, Thủy-Thiên-Hải-Diêm), 1 vuông góc chữ T (Kim-Thổ-Hải), một đại tam hợp (Thủy-Diêm-Thiên-Kim) và một hình chữ nhật (Thủy-Diêm-Hải-Kim) liên quan hầu hết 9 hành tinh ngoại trừ Mặt Trời, và toàn bộ các hành tinh vòng ngoài đều đang nghịch hành (Mộc, Thổ, Thiên, Hải, Diêm) !  Sự kiện này hầu như trùng hợp với Hội Nghị Yalta diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11/2 của 3 nguyên thủ quốc gia lừng danh thời bấy giờ: Winston Churchill (Anh Quốc), Franklin Roosevelt (HCQ Hoa Kỳ) và Joseph Stalin (Liên Bang Nga), nhằm thiết lập lại trật tự thế giới và chấm dứt chiến tranh thế giới thứ 2.


Nếu tính cả Mặt Trăng vào ngày 7/2/1945 (ngày giữa quãng thời gian hội nghị Yalta), chúng ta còn thấy một sự sắp xếp hành tinh càng bất thường hơn, gồm có một Đại Lục Hợp rất hiếm có: Thủy-Thiên-Hải-Kim-Diêm-Nguyệt !


Vào ngày 9/2/1945, Mặt Trăng tạo thành một hành tinh mấu chốt trong một Đại Thập Tự và một Yod.



HÌNH THANG DÀI


Một Hình Thang Dài gồm có 4 hành tinh A, B, C, D theo cấu trúc:

- A vuông góc với D
- B bán lục hợp với C
- A tam hợp với B và ngũ hợp với C
- D tam hợp với C và ngũ hợp với B

Đây là một hình thang dài tạo ra bởi Nguyệt-Thủy-Thiên và Diêm, xảy ra vào 21:00 ngày 18/8/2012.



KIM CƯƠNG

Mẫu hình này tốt hơn có thể được gọi là một hình Ngũ Giác bị méo.  Nó gồm có 5 hành tinh tạo ra bằng cách ghép đấu lại một HÌNH THANG và một VUÔNG GÓC CHỮ T với nhau. Ngoài ra, 2 hành tinh tiếp không tiếp giáp với chữ T lại tạo thành một yod với hành tinh ở chân chữ T.

Mẫu hình Kim Cương đã xuất hiện vào ngày 20/7/2012 ngay vụ thảm sát của James Holmes tại một rạp chiếu phim ở Aurora, Colorado, USA.  Bạn có thể thấy bộ ba Vuông Góc Chữ T tạo ra bởi Hỏa-Diêm-Thiên và hình thang tạo ra bởi 4 hành tinh Hỏa-Thủy-Mộc-Thiên.  Yod được tạo thành do bộ Thủy-Diêm-Mộc.


[CCT]Phiên bản 1.0.0, xuất bản ngày 9/1/2013, bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)

Giải mã các góc chiếu

Khi mới tìm hiểu về chiêm tinh học, các bạn thường nghe nói đến sao này "chiếu" sao kia, hành tinh X "vuông góc" hay "trùng tụ" với hành tinh Y ... Vậy những "góc chiếu" hay "vuông góc" đó là gì ?  Chúng đóng vai trò quan trọng như thế nào ?

Một trong những kiến thức căn bản để hiểu được một lá số chiêm tinh đó là bạn cần biết ý nghĩa của các GÓC CHIẾU.  Theo định nghĩa, một GÓC CHIẾU là khoảng cách chính xác giữa 2 điểm trong một lá số, thể hiện qua vòng cung của hình tròn (với tâm ở chính giữa lá số) và được tính bằng độ (°).  Nói cách khác, góc chiếu được dựa trên sự phân chia góc độ hình học của một vòng tròn, 360°, ra thành từng cỡ khác nhau tương tự như miếng bánh pizza.  Trên một lá số, các góc chiếu ("aspects") liên kết các hành tinh và điểm nhạy cảm với nhau tạo thành một sự ảnh hưởng, tác động, kiểm soát, kích thích và cho thấy sự gắn bó vô hình giữa chúng.  Một số góc chiếu, hay phân chia, sẽ tạo thành liên kết mạnh mẽ hơn các góc chiếu khác, dù đặc điểm cốt lõi chung ở đây đó là chúng đều có liên quan ít nhiều với nhau.


Một hình ảnh ví dụ để bạn có thể nhìn các góc chiếu trong lá số đó là xem lá số như một bàn tiệc, và các hành tinh liên kết với nhau như những vị khách mời trong buổi tiệc ấy.  Kim Tinh thưởng thức buổi tiệc này như thế nào với Mặt Trăng ?  Còn chàng Thổ Tinh thì sao ?  Chàng ấy có vui chơi hết mình, hay chỉ gậm nhấm từ từ khi liên kết với Hỏa Tinh ? Hay chàng mất hứng ăn uống trong bữa tiệc này ? ...

Mỗi hành tinh có một định hướng khác nhau về trải nghiệm cuộc sống.  Mỗi hành tinh sẽ nếm thử, tiêu hóa, thâm nhập hay chối từ trải nghiệm đó theo những cách khác nhau.  Đối với Chiêm Tinh Học, không có góc chiếu, hành tinh, hay vận nào gọi là "tốt" hay "xấu".  Đơn giản là chúng đều có tính cách riêng, đôi khi lại tương phản / đối nghịch lẫn nhau.  


Nói cách khác, mỗi loại góc chiếu đều có hai bộ mặt.  Những góc chiếu căng thẳng luôn đem đến những khó khăn, và nếu chúng ta có thể vượt qua khó khăn đó, chúng trở thành sự thắng lợi, chinh phục hay thành đạt cho bản thân.  Trong khi đó, những góc chiếu hài hòa đem đến những điều kiện thuận lợi có thể phung phí đi nhiều cơ hội tốt.  Tốt nhất và lý tưởng nhất là một lá số nên có sự cân bằng giữa 2 nhóm góc chiếu vừa căng thẳng vừa hài hòa.  Nếu một người chỉ có toàn những góc chiếu hài hòa sẽ có nhiều tiềm năng đấy, nhưng lại không có động lực để phát triển nó, trong khi một người chỉ có những góc chiếu căng thẳng có thể cảm thấy thiếu niềm tin và lạc quan để vượt qua các khó khăn.

Góc chiếu cũng giống như các chân bàn.  Đụng một chân sẽ tác động đến các chân khác.  Nếu có một hình học đại thập tự xuất hiện trên lá số bẩm sinh giữa Kim Tinh, Hỏa Tinh, Thổ Tinh và Mộc Tinh, chỉ cần kích động một hành tinh thì sẽ đánh thức hết các hành tinh còn lại.  Trong ví dụ này, nếu bạn đấu tranh với một tình huống đe dọa (Hỏa Tinh), bạn sẽ tự động đánh thức sự cô lập và chủ quyền của Thổ Tinh, sự nồng nhiệt mở rộng của Mộc Tinh và ước vọng tạo ra hòa bình của Kim Tinh.  Bạn không thể chọn một mà không đụng đến những hành tinh khác một khi chúng đã liên kết với nhau bằng góc chiếu, cho dù là thể hiện ra bên ngoài thực tế với một hành tinh và dồn hết về bên trong nội tâm với tất cả các hành tinh còn lại (như phần đáy của một tảng băng nổi).


Điều này làm sáng tỏ ra các hiệu ứng của bất kỳ hành tinh nào đứng đơn điệu và không có góc chiếu ("unaspected" - với hành tinh nào khác) trong lá số.  Ví dụ, nếu Hỏa Tinh không có góc chiếu (với hành tinh nào khác), sự đấu tranh có thể không gợi lên điều gì ngoài sự hung hăng của chính nó.  Nó có thể hoạt động trong sự cô lập vì nó không có liên kết gì với các thiên thể khác.  Trong trường hợp này, một khi bị đánh thức, sự hung hăng đó sẽ rất khó để bị kìm chế từ bên trong hay bên ngoài (Thổ Tinh), khó đi đến hòa giải hay điều đình (Kim Tinh), hay khó có một ý nghĩa hoặc mục tiêu gì cụ thể cả (Mộc Tinh).  Năng lượng Hỏa Tinh trở nên tinh khiết và hoang dại tạo ra một biến cố lớn mà không có bất kỳ điều gì để hoán chuyển hay thay đổi nó.  Đây không hẳn là một điều xấu !  (Hãy nghĩ đến tiềm năng trong thể thao !)

Bản chất của góc chiếu, dù là tam hợp, vuông góc, ngũ chiếu hay đối nghịch đều có ý nghĩa nào đó, nhưng điều quan trọng hơn đó là chúng ta phải nắm được nếu có bất kỳ liên quan nào và sự liên quan đó tượng trưng cho chuyện gì.  Nếu Mặt Trăng (cảm xúc) tạo góc chiếu với Hỏa Tinh (động lực), cảm giác sẽ rất khác với khi Mặt Trăng tạo góc chiếu với Hải Vương Tinh (mơ mộng hoặc thiên hướng tâm linh).  Có sự khác biệt giữa góc chiếu "mềm" và góc chiếu "cứng", nhưng ý nghĩa chính giữa các hành tinh liên kết với nhau vẫn không thay đổi.  Điều này đặc biệt đúng với những vận hạn liên quan đến các hành tinh vòng ngoài.  Một lục hợp từ Diêm Vương Tinh có thể mang đến một trải nghiệm sâu sắc đến từng chi tiết cũng không kém gì một vuông góc hay đối góc.  Quan trọng hơn, sự khác nhau ở chỗ người đó có được thần thánh "xoa đầu" nhiều hay ít là tùy vào ở góc chiếu.  Thông thường, trùng tụ (0°) và đối góc (180°) là những góc chiếu gây kết quả rõ ràng nhất trong lá số bẩm sinh của bạn, tuy nhiên những góc chiếu "ít hơn" cũng cần được xem xét và thẩm định, cho dù là không có gì.  


Độ sai số (orb) tốt nhất thường là tùy mỗi lá số và kinh nghiệm của người xem lá số, dựa trên cái nào đúng nhất và đem đến kết quả có thể tin tưởng được và mang tính đồng bộ nhất.  Một sai số lớn hơn có thể được dùng cho các góc trùng tụ và đối góc, có khi đến 10° - 12° khi liên quan đến Mặt Trời hay Mặt Trăng, và sai số tiếp tục thắt chặt hơn cho các vuông góc, tam hợp, và càng chặt (sít sao) hơn nữa khi nói đến lục hợp và ngũ hợp.  Những góc chiếu không quan trọng thường có sai số không quá 2°, ví dụ như khi xem trường hợp song song thì độ chính xác cho phép sẽ không đi quá 1°.  Điều quan trọng nhất ở đây cần nhớ đó là, nếu một hành tinh có tác động như là đang có góc chiếu với một hành tinh khác, dù là sai số có lớn đi nữa, thì liên hệ đó vẫn được tính đến.  "Kết quả" quan trọng hơn "quy luật".  Hãy uyển chuyển và dùng trực giác trong chính bạn khi xem lá số.

TRÙNG TỤ 0° HOẶC SONG SONG/PHẢN GƯƠNG NGANG

Trùng Tụ là một góc chiếu giữa hai hành tinh hay hai điểm cách nhau từ 0° đến vài độ, đôi khi có thể lên đến 10° hay 12°.  Tóm lại là chúng chồng trên nhau ở cùng một chỗ trên lá số.


Song Song được tạo ra khi hai hành tinh có cùng xích vĩ độ (declination), hay cùng khoảng cách hướng bắc hoặc nam của đường Hoàng Đạo.  Nếu cả hai hành tinh cùng ở phía Bắc, hoặc cùng ở phía Nam, chúng được xem tương đương như là một Trùng Tụ.  Nếu một hành tinh ở phía Bắc và hành tinh còn lại ở phía Nam, chúng được xem như là một đối góc 180°.  Sự Song Song được diễn dịch như là một khuếch đại mạnh mẽ cho bất kỳ góc chiếu nào khác sẵn có giữa hai hành tinh.  Trên lá số, bạn có thể thấy rõ hai hành tinh song song với nhau khi chúng có vị trí đối xứng, hay tôi thường gọi là Phản Gương (chiều) Ngang, qua trục Song Tử/Bắc Giải và Nhân Mã/Ma Kết (trong bài 135.001 đã có nhắc đến).


Một hành tinh trùng tụ, hoặc song song/phản gương với một hành tinh khác trong lá số thể hiện sự hòa trộn bẩm phú với nhau về tính chất của các thiên thể này.  Chúng hòa hợp với nhau đến nỗi khó có thể phân biệt giữa cái này và cái kia.  Chúng như đôi mèo Xiêm, vừa có khác biệt riêng nhưng luôn luôn nối kết với nhau.  Tùy theo hành tinh nào nối kết với nhau sẽ định đoạt kết quả hiệu ứng của mỗi trùng tụ đó.  Người có Mặt Trời trong Thiên Bình (Libra) trùng tụ hoặc (nếu) song song với Kim Tinh tượng trưng cho một sự hấp dẫn thu hút tự nhiên, củng cố các tính chất của Mặt Trời Thiên Bình như đĩnh đạc cân bằng, thưởng thức nghệ thuật và thẩm định một cách khách quan.  Cũng Mặt Trời đó nhưng trùng tụ hay song song với Diêm Vương Tinh là một câu chuyện khác.   Mọi việc mà Diêm Vương Tinh đụng đến sẽ có xu hướng lôi kéo đi tuột xuống những ruột lòng sâu thẳm nhơ nhớp của âm phủ làm cho Mặt Trời Thiên Bình đó nhẹ lắm là phải ... quằn quại !  Nhu cầu của chúng quá khác nhau, xu hướng thì đối nghịch, và ước vọng không tương đẳng với nhau.  Điều quan trọng để hiểu được một trùng tụ là quan sát kỹ nó đem nhập lại cái gì với nhau.

Sự đến với nhau này còn bao gồm cả góc chiếu khác cung Hoàng Đạo, nếu sai số không quá lớn.  Ví dụ Kim Tinh tại 2° trong Song Tử trùng tụ với Chiron đang ở 27° thuộc cung Kim Ngưu thêm vào sự phức tạp trong ý nghĩa của thế chiếu.  Kim Tinh và Chiron có thể nhắm cùng phương hướng và mục tiêu và hỗ trợ mạnh mẽ cùng nhau trong trùng tụ, nhưng tính tình nghịch ngợm và tìm kiếm tri thức của Song Tử có thể mau chán và thiếu kiên nhẫn với tính chín chắn kỹ càng và chăm chỉ của Kim Ngưu, làm cho sự hội tụ này rắc rối hơn bạn nghĩ ban đầu.

Trong vận hạn, trùng tụ và song song/phản gương ngang là những góc chiếu mang tính HÀNH ĐỘNG.  Chúng cho thấy năng lượng và phản ứng, cũng như hiệu ứng của chúng được gia tăng, dù là tốt hay xấu, bởi vì các năng lượng được hội nhập lại với nhau.  Trong các cung Hoàng Đạo thuộc nhóm Lãnh Đạo (Bạch Dương, Bắc Giải, Thiên Bình và Ma Kết), sự trùng tụ hay song song cho thấy sự hành động hay phản ứng ngay tức thì, mang tính chất khẩn trương trong những thiên thể liên quan.  Nếu là trong các cung thuộc nhóm Kiên Định (Kim Ngưu, Hải Sư, Hổ Cáp và Bảo Bình), hành động đó sẽ trở nên kìm chế và tiết độ hơn.  Trong các cung Biến Động (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã và Song Ngư), hành động đó sẽ bị phân tán, bất thường hay đa dạng trong mục đích của nó.

ĐỐI GÓC 180° HOẶC BẤT SONG SONG / PHẢN GƯƠNG DỌC

Đối Góc (hay bất song song theo xích vĩ hoặc trục Bạch Dương/Thiên Bình) cho thấy có một sự tương phản về các nhu cầu, giá trị và động lực.  Theo truyền thống, đối góc tượng trưng cho sự chia cách, mâu thuẫn và chênh lệch về các nhu cầu khác xu hướng với nhau.  Sự khách quan ngụ ý trong một đối góc đó là việc hình thành ra một quan hệ đối tác tương trợ, có một sự hợp nhất công bằng nào đó giữa 2 thái cực đối nghịch.  Tuy nhiên, con đường để đạt đến sự khách quan đó thường dẫn đến một chiến trận đầy những khác biệt khốc liệt.


Sự xung đột trong đối góc xảy ra không phải vì bản thân các hành tinh mâu thuẫn với nhau, nhưng là vì tính chất của cung Hoàng Đạo mà chúng đóng.  Đây là vấn đề thuộc về VỊ TRÍ.  Ngoài trường hợp đối góc kiểu "ngoại cung" (nằm gần các tiếp điểm giữa hai cung Hoàng Đạo), hai hành tinh đối góc sẽ thường đóng trong các cặp cung Hoàng Đạo trực tiếp đối diện với nhau trên đường kính vòng tròn của lá số cùng với những động lực tương phản với nhau.


Trong vận hạn, các hành tinh đối góc với nhau xem như bị "tách rời" về "khoảng cách" giữa "mục tiêu" và "mục đích" của chúng.  Chúng không tự nhiên đem hai nguồn lực đối nghịch lại với nhau, mà chỉ có thể làm như vậy qua sự mâu thuẫn và đấu tranh.  Chúng có thể là hai cá nhân có ước vọng và mục đích trái ngược nhau, hay hai tùy chọn thể hiện tính tương phản của chúng nhiều hơn là điểm chung.

Cơ cấu phóng chiếu (projection) về ý nghĩa đặc tính của từng hành tinh đóng vai trò rõ ràng trong một đối góc.  Đặc tính "nước đôi" của đối góc dễ dàng tạo ra một sự phân chia đối lập mạnh mẽ đến nỗi giải pháp duy nhất chính là phải để cho ai đó thể hiện ra phần cực đoan của mình.  Điều này có thể ví dụ qua các quan hệ tình cảm khi một người yêu chuộng tự do, bay nhảy (Thiên Vương Tinh) và người kia muốn sự gần gũi, bám víu (Kim Tinh), hay một bên là người vui vẻ hướng ngoại náo nhiệt (Mộc Tinh) và bên kia là một kẻ nghiêm túc và bảo thủ kinh điển (Thổ Tinh).  Một hay cả hai người có thể có một đối góc giữa Kim Tinh và Thiên Vương Tinh, hay một đối góc Mộc Tinh / Thổ Tinh sít sao, hay góc chiếu nào khác, và cả hai không thể đạt đến một sự phân đôi nào khác hơn là "chia cắt và phóng chiếu".

Hiểu được ý nghĩa phóng chiếu của một đối góc chính là bước đầu tiên để ráp ghép trở lại những nhu cầu đã bị chia rẽ ra thành hai phe đối nghịch.  Phơi bày rõ ràng sự đối góc theo phương pháp này sẽ giúp chúng ta hiểu được cái gì đáp ứng được các nhu cầu của mỗi bên, cho dù đáp ứng này có là một sự tạm bợ.  Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu nắm bắt được cả hai khía cạnh đó thì việc tìm kiếm giải pháp hợp tác của đối góc mới có thể phát huy được hiệu lực.

VUÔNG GÓC 90°

Bao ngàn năm qua, Vuông Góc luôn bị "ném đá" bởi sách vở, được phong cho những từ ngữ như là "kẻ phá rối", "xui xẻo", "ma quỷ" và "đê hèn".  Trong vận hạn, sự vuông góc cho thấy khó khăn, mất mát, thất bại và những cái giá đắt đỏ phải trả.  Sách vở hiện đại ngày nay đã nhẹ nhàng phân định lại vấn đề với vuông góc bằng những chữ như "chướng ngại, cản trở và khó khăn".  Cho dù nói kiểu nào đi nữa, vuông góc đồng nghĩa với công việc khó nhọc.


Ít có nhà chiêm tinh gia nào có thể định nghĩa được sự vui thú của Mặt Trăng khi vuông góc với Thổ Tinh.  Có gì ích lợi trong việc phải vất vả ổn định các nhu cầu căn bản như tình yêu, nuôi dưỡng và cảm xúc ?  Đó là một thử thách cho người xem số khi cố vẽ một bộ mặt hạnh phúc trên một góc chiếu vuông.  Và cũng ít ai có thể chấp nhận được điều này.

Tuy nhiên, nếu không có mâu thuẫn, xung đột và đấu tranh, một câu chuyện sẽ trở nên nhàm chán.  Nhân vật không bị kích động hay lôi kéo để họ có thể trở thành những "anh hùng".  Nếu không có vuông góc, sẽ không có tương phản, không có việc phải ngồi trên đống lửa, để chờ đợi tham gia vào một hành động kế tiếp.  Thực tế là, người đó sẽ không bao giờ học được để đứng dậy.  Nếu được nuôi dưỡng liên tục, các nhu cầu dễ dàng được thỏa mãn và các hành động được đáp ứng trơn tru thông suốt thì cuộc sống sẽ sản sinh ra những con người sống không có mục đích.  Vuông góc là những cú thúc để vị anh hùng bước đi trên cuộc hành trình của mình, giúp anh ta lớn lên và thay đổi.  Chúng là một phần của những gì làm chúng ta cảm thấy đạt được mục đích và trở nên khôn ngoan.

Vuông Góc tượng trưng cho xung đột một phần là vì khoảng cách của các hành tinh với nhau.  Ở góc vuông 90°, các hành tinh thường là nằm chung một nhóm Thể Động (Lãnh Đạo, Kiên Định hay Biến Đổi).  Chúng đều có cùng phương thức chuyển động chung, nhưng phương hướng mà chúng nhắm tới hoàn toàn khác nhau.

Nhóm Lãnh Đạo có phong cách hành động và khởi động.  Tuy nhiên, phong cách mà chúng khởi động đều không giống nhau.  Bạch Dương hành động để dẫn đến sự tự nhận thức, bướng bỉnh và chiến thắng.  Cách Bạch Dương 90°, Bắc Giải hành động để dẫn đến sự đoàn tụ cảm xúc, nỗi đau và hòa nhập được chia xẻ.  Cách Bắc Giải 90°, Thiên Bình hành động để dẫn đến vẻ đẹp được san xẻ, giá trị tri thức và khoái lạc trong giao tiếp.  Cách Thiên Bình 90°, Ma Kết hành động để dẫn đến quyền lực, trách nhiệm và sự thành đạt cao hơn.  Cách 90° từ Ma Kết, trở lại với Bạch Dương, là kẻ chẳng quan tâm nhiều về trách nhiệm hay các giới hạn ràng buộc.

Vuông Góc được hiểu như là những xung đột và tương phản đầy ý nghĩa và cần bỏ ra sức lực và óc suy gẫm để giải quyết.  Thông thường, khó ai có thể bỏ qua chúng.  Chúng thường gây chú ý cho chúng ta bằng những cách hóc búa, nhưng có thể có lợi, hữu dụng và đầy sáng tạo.

TAM HỢP 120°

Tam Hợp nổi tiếng đem lại may mắn, thuận lợi trong công việc và làm tiêu tan khó khăn.  Nó cũng còn được cho là góc chiếu của sự sáng tạo và mở rộng tinh thần, đem đến sự hạnh phúc và thoải mái cho đương số.  Ký hiệu của nó là một tam giác đều, tượng trưng cho sự hài hòa, cân bằng và mãn nguyện.  Những hành tinh thuộc góc chiếu này có cùng một hành (Hỏa/Thổ/Khí/Thủy) cho thấy có một luồng chảy năng lượng không bị cản trở, ngoại trừ trong trường hợp chúng tạo góc chiếu tam hợp với các cung Hòang Đạo trái hành ("ngoại cung").


Sách vở ngày xưa cho rằng Tam Hợp luôn luôn là tốt, không cần phấn đấu gì nhiều và đem lại những kết quả có lợi.  Sự Tam Hợp thường cho thấy một sự chấp nhận, dù đó là giữa Mặt Trăng và Kim Tinh, hay Mặt Trăng và Diêm Vương Tinh.  Các hành tinh được sắp xếp trong một quan hệ thoải mái và trơn tru với nhau nhất.  Điều này có ý nghĩa thông thoáng, với sức cản trở ít nhất để đạt đến sự cầu toàn trong một niềm tin, triết lý, hay đạt đến những gì mà người khác lại cho rằng là "phá hoại" hoặc "cô lập".  Hãy nhớ rằng Chiêm Tinh Học không bị tù túng trong một kiểu mẫu văn hóa nào cả.  Nó nằm bên ngoài chiếc hộp.  Nó không xét đoán.  Bản chất của các góc chiếu không "tốt" hay "xấu", nhưng sự thể hiện ra bên ngoài của người đó định nghĩa sự "tốt" hay "xấu", tùy theo mỗi văn hóa mà người đó đang sống.

LỤC HỢP 60°

Lục Hợp mang ý nghĩa tương tự như Tam Hợp, nhưng phát huy với cường độ yếu hơn, và thường dừng ở mức "tiềm năng".  Từ khóa phổ biến cho góc chiếu Lục Hợp chính là "cơ hội" trong sự thuận lợi, hài hòa.  Điều này dựa trên tính chất tích cực của góc chiếu Lục Hợp thường xảy ra giữa những dấu hiệu Hoàng Đạo có cùng phân cực âm dương, hoặc các hành như Thổ và Thủy, Hỏa và Khí. 


Lục Hợp trong vận hạn đem đến những thời gian thuận lợi (= "làm biếng") rõ ràng hơn với đương số nếu liên quan đến những cung Nhà thuộc nhóm Lãnh Đạo (1, 4, 7, 10).  Trong khi đó, lục hợp từ những cung Nhà thuộc nhóm Biến Đổi cho thấy sự chần chừ hay trì hoãn khi cần phải hành động nhanh lẹ.  Lục Hợp cũng đòi hỏi chúng ta phải cảnh tỉnh.  Một cơ hội có thể xuất hiện khi các hành tinh lục hợp với nhau, mặc dù chúng ta sẽ phải bỏ công ra để nắm bắt lấy giây phút đó khi nó xuất hiện.

Về tính tình con người, sự lục hợp liên kết các hành tinh với nhau theo kiểu tương thích mang ý nghĩa hợp tác và đồng cảm.  Dĩ nhiên, cũng phải xem xét bản chất thể hiện ra ngoài của những hành tinh liên quan khi chúng đi riêng lẻ, cũng như khi chúng kết hợp lại với nhau.  Nếu Hỏa Tinh lục hợp với Diêm Vương Tinh, điều đó không tự động có nghĩa là người đó đã biến đổi những động lực xông xáo của mình thành kiểu vừa mạnh mẽ nhưng cũng vừa nhạy cảm.  Nó chỉ có nghĩa là khi họ cảm thấy muốn xông xáo hay hành động (Hỏa Tinh), họ cũng cảm nhận được sức mạnh của thế giới bản năng tràn ngập trong họ theo từng cơn sóng ám ảnh mang sự trả thù có sức hủy hoại (Diêm Vương Tinh).  Điều quan trọng cần nhớ ở đây đó là hiểu được sức mạnh của lục hợp để mang các hành tinh lại với nhau và cùng nhắm về một mục đích hay lý do.

NGŨ CHIẾU 150° VÀ BÁN LỤC HỢP 30°

Lý do các nhà chiêm tinh cổ xưa đã gọi những góc chiếu "bất trùng tụ" (inconjunct) này là "ngũ chiếu" (quincunx) và "bán lục hợp" (semisextile) là vì chúng đều chia vòng tròn ra cùng mẫu số 12: bán lục hợp = 1/12 vòng tròn, và ngũ chiếu = 5/12.  Điều quan trọng cần lưu ý đó là những góc chiếu này được xem là những góc chiếu NHỎ thường gặp bên cạnh những góc chiếu LỚN và quan trọng hơn như đã đề cập ở trên.  Những góc chiếu này liên kết chặt chẽ với nhau những hành tinh thuộc dấu hiệu Hoàng Đạo khác phân cực, nguyên tố, thể động và xu hướng chung.  Chúng giống như những "bóng ma" trong sương đêm, và sự xuất hiện của chúng có thể khiến bạn rùng mình.


Một số người gắn những cái mác như "thân thiện" và "hài hòa" đối với góc chiếu bán lục hợp, xem nó chẳng khác nào là một phiên bản "con" của lục hợp.  Một số khác cho rằng bán lục hợp và ngũ chiếu tạo ra sự căng thẳng và khó chịu giống như một vuông góc.  Dĩ nhiên, cách tốt nhất đó là xem xét góc chiếu dựa trên hai hành tinh nào liên quan, và nó dễ dàng hay thách thức như thế nào khi dung hợp những nhu cầu và động lực của chúng trong những cung Hoàng Đạo mà chúng cư ngụ.


NHỮNG GÓC CHIẾU NHỎ KHÁC:

BÁN VUÔNG GÓC 45° (90°/2 HOẶC 360° x 1/8) và VUÔNG GÓC RƯỠI 135° (90° + 45° HOẶC 360° x 3/8)

Đây là những góc chiếu không được sử dụng rộng rãi ngày xưa, và có một ý nghĩa tương đối khá mới trong các loại góc chiếu.  Chúng liên kết hai hành tinh với hàm ý của sự thay đổi và điều chỉnh qua tranh đấu.  Nhiều người cho rằng chúng cũng có cái gì đó tương tự như vuông góc, cho thấy sự bất an và là thước đo ít nhiều của sự bất ổn định.  Cả hai bán vuông góc và vuông góc rưỡi có thể cho thấy những phản ứng khắc nghiệt và đột xuất, cũng có thể dẫn đến một thứ cảm xúc "lý thú".  Cả hai hành tinh liên quan nói chung có một sự ma sát và cản trở.  Tình huống liên quan đến những góc chiếu này sẽ cần tính kiên trì và hành động có tính toán cẩn thận.  Cũng vậy, để biết sâu hơn thì phải xem bản chất kết hợp của các hành tinh liên quan.

PHẦN NĂM 72° (360° x 1/5) VÀ PHẦN NĂM ĐÔI (360° x 2/5)

Đây là những góc chiếu khó thấy nếu mới nhìn một lá số ban đầu, vì chúng không thể hiện ra theo những góc độ quen thuộc.  Các dấu hiệu Hoàng Đạo thường có chung một thể động (Lãnh Đạo, Kiên Định hoặc Biến Đổi) đối với góc phần năm, và với phần năm đôi thì giống như với góc ngũ chiếu 150°.  Những góc chiếu khó thấy này mang đến luồng năng lượng sáng tạo và tài năng cho đương số.  Chúng cũng có thể cho thấy nguồn động lực của một bản tính "chuyên môn" nào đó cần phải được phát triển và định hướng để có thể phát huy ra những hướng tốt đẹp trong cuộc sống.  Chúng kết nối những nhu cầu và động lực mà có thể không hòa hợp với nhau lúc ban đầu.  Hiểu được và chấp nhận những nhu cầu của các hành tinh liên quan trong góc chiếu này chính là bước đầu tiên để vận dụng chúng một cách hữu ích.

PHẦN MƯỜI 36° (360° x 1/10), BA PHẦN MƯỜI 108° (360° x 3/10) VÀ PHẦN HAI MƯƠI 18° (360° x 1/20)

Đây là những góc chiếu dựa trên sự phân chia vòng tròn với cùng một mẫu số 10, mà trong chiêm tinh vận hạn, chúng mang đến những sự kiện có tính chất rõ ràng, chính xác, hữu hình, không nghi ngờ vào đâu được, thể hiện qua những kết quả từ các hành tinh kết hợp theo kiểu chiếu này.  Về tính tình bẩm sinh, góc chiếu Phần Mười cho thấy những thiên tài đặc biệt tiềm ẩn mà có thể ban đầu người khác không nhận ra.  Cần có sự nhận thức và kiểm soát thận trọng nguồn lực và sức mạnh trong các góc chiếu này.

THẤT HỢP / PHẦN BẢY 51°25'43" (360° x 1/7), THẤT HỢP ĐÔI (360° x 2/7) VÀ THẤT HỢP BA (360° x 3/7)

Đây là những góc chiếu chia vòng tròn ra cùng mẫu số 7.  Vì chúng phân chia không đều, nên chúng được xem như có gì đó "phi lý" và "bất thường" / "thất thường" trong sự thể hiện của chúng.  Cũng rất khó nhìn ra những góc chiếu này trong một lá số nếu không có sự trợ giúp của máy tính hay thước đo góc.  Chúng cho thấy những khó khăn trong cảm xúc hay tình cảm, cũng như cảm hứng đột phá sáng tạo.  Một số nhà nghiên cứu cho rằng Thất Hợp tương ứng với một cảm nhận thích thú, gây cảm hứng và kỳ diệu.  Những hành tinh liên quan này kết hợp để thu hút những tình huống, nơi chốn hay con người để sinh ra sức tưởng tượng, từ đó là một bàn đạp lý tưởng và đắc dụng để đi đến khả năng sáng tạo và nhiệt huyết.  Một số người khác cũng cho rằng, dù có là các hành tinh liên quan này có như thế nào, Thất Hợp cũng mang những tính chất "lãng mạn", mô tả những con người hay tình huống làm nung cháy sự nồng nàn.

CỬU HỢP 40° (360° x n/9)

Cửu hợp là những góc chiếu chia vòng tròn theo mẫu số 9, và ít khi sử dụng trong chiêm tinh học.  Một số nhà nghiên cứu có sử dụng góc chiếu này để xem xét về vấn đề thu hút trong tình dục.  Những góc chiếu theo bội số của Cửu Hợp như 40°, 80° và 160° liên quan đến nét quyến rũ hiếu kỳ, một năng lực hay nghi lễ huyền bí nào đó vì chúng liên quan đến cung Nhà thứ 9.

THẬP NHẤT HỢP 32°43'70" (360° x 1/11)

Đây là góc chiếu chia vòng tròn ra thành 11 phần, và được cho là biểu hiện của thiên tài về tâm linh.

Phiên bản 1.0.0, xuất bản ngày 20/11/2013, bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)